Lawrenci

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lawrencium,  103Lr
Tính chất chung
Tên, ký hiệu lawrencium, Lr
Phiên âm /ləˈrɛnsiəm/
lə-REN-see-əm
Hình dạng không rõ
Lawrencium trong bảng tuần hoàn
   
 
103
Lr
 
               
               
                                   
                                   
                                                               
                                                               
                                                               
                                   
Số nguyên tử 103
Khối lượng nguyên tử chuẩn [262]
Phân loại actinide, đôi khi được xem là kim loại chuyển tiếp
Nhóm, phân lớp n/ad
Chu kỳ Chu kỳ 7
Cấu hình electron [Rn] 7s2 5f14 7p1
mỗi lớp 2, 8, 18, 32, 32, 8, 3
Tính chất vật lý
Trạng thái vật chất solid presumably
Tính chất nguyên tử
Trạng thái ôxi hóa 3
Năng lượng ion hóa Thứ nhất: 443.8 kJ·mol−1
Thứ hai: 1428.0 kJ·mol−1
Thứ ba: 2219.1 kJ·mol−1
Thông tin khác
Số đăng ký CAS 22537-19-5
Lịch sử
Phát hiện Lawrence Berkeley National Laboratory (1961)
Đồng vị ổn định nhất
Bài chính: Đồng vị của lawrencium
iso NA Chu kỳ bán rã DM DE (MeV) DP
262Lr syn 3.6 h EC 262No
261Lr syn 44 min SF/EC?
260Lr syn 2.7 min α 8.04 256Md
259Lr syn 6.2 s 78% α 8.44 255Md
22% SF
256Lr syn 27 s α 8.62,8.52,8.32... 252Md
255Lr syn 21.5 s α 8.43,8.37 251Md
254Lr syn 13 s 78% α 8.46,8.41 250Md
22% EC 254No
only isotopes with half-lives over 5 seconds are included here

Lawrenci là một nguyên tố tổng hợp có tính phóng xạ được kí hiệu là Lrsố nguyên tử là 103. Đồng vị bền nhất của nó là 262Lr, với chu kỳ bán rã gần 3,6 giờ. Có rất ít thông tin hóa học về nguyên tố này nhưng nó có thể hình thành ion hóa trị 3 trong dung dịch nước, và là nguyên tố nằm cuối cùng trong nhóm actini.

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Lawrenci được tổng hợp đầu tiên bởi một nhóm nghiên cứu Albert Ghiorso, Torbjørn Sikkeland, Almon Larsh, Robert M. Latimer, và các cộng sự vào ngày 14 tháng 2 năm 1961, tại phòng thí nghiệm phóng xạ Lawrence (Lawrence Radiation Laboratory ngày nay gọi là phòng thí nghiệm quốc gia Lawrence Berkeley) tại đại học California, Berkeley. Các nguyên tử đầu tiên của nguyên tố lawrenci được tạo ra bằng cách bắn phát 3-milligram hỗn hợp 3 đồng vị của nguyên tố californi bằng các hạt nhân boron-10 và boron-11 trong máy gia tốc tuyến tính ion nặng (Heavy Ion Linear Accelerator-HILAC).

Nhóm nghiên cứu Berkeley thông báo rằng đồng vị 257Lr được phát hiện với phương pháp tương tự, và khi phân rã nó giải phóng 8,6 MeV hạt anpha với chu kỳ bán rã khoảng 8 giây. Việc xác định này sau đó được sửa lại là 258Lr.

25298Cf + 115B263–x103Lr258103Lr + 5 10n

Nhóm nghiên cứu tại đại học California đề nghị đặt tên là lawrencium, và kí hiệu là "Lw" cho nguyên tố mới nhưng "Lw" không được thông qua, và "Lr" được chính thức chấp nhận.

Năm 1967, các nhà nghiên cứu hạt nhân ở Dubna, Nga thông báo rằng họ không thể xác nhận một phát xạ anpha có chu kỳ bán rã 8 giây đối với 257Lr. Đồng vị này sau đó được xác định là 258Lr. Thay vào đó nhóm nghiên cứu ở Dubna thông báo rằng một đồng vị chu kỳ bán rã 45 giây là 256Lr.

24395Am + 188O261–x103Lr256103Lr + 5 10n

Các thí nghiệm sau đó vào năm 1969, được thực hiện bởi Travis Anselm và đồng sự đã minh họa một nguyên tố mới thuộc nhóm actini. Nguyên tố này nằm ở vị trí của lawrenci chu kỳ 8B trong bảng tuần hoàn. Năm 1971, nhóm nghiên cứu vật lý hạt nhân ở đại học California tại Berkeley đã hoàn thành thành công một loạt các thí nghiệm với mục đích đo đạc các tính chất phân rã của các đồng vị lawrenci có khối lượng từ 255 đến 260.

Năm 1992, IUPAC Trans-fermium Working Group (TWG) chính thức công nhận các nhóm nghiên cứu vật lý hạt nhân tại Dubna và Berkeley đồng phát hiện ra lawrenci.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]