Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Zhongwen.svg
Bài viết này có chứa các ký tự Trung Hoa. Nếu không được hỗ trợ hiển thị đúng, bạn có thể sẽ nhìn thấy các ký hiệu chấm hỏi, ô vuông, hoặc ký hiệu lạ khác thay vì các chữ Trung Quốc.
Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
中国共产党中央军事委员会
中國共產黨中央軍事委員會
Zhōngguó Gòngchǎndǎng Zhōngyāng Jūnshì Wěiyuánhuì
Khái lược
Thành lập 28 tháng 9, 1954
Tiền thân Ủy ban Quân sự Cách mạng Nhân dân của Chính quyền Nhân dân Trung ương
Thẩm quyền Quân giải phóng Nhân dân Trung HoaLực lượng Cảnh sát Vũ trang Nhân dân Trung Quốc
Trụ sở Công trình Ngày 1 tháng 8, Bắc Kinh
Lãnh đạo Tập Cận Bình, Chủ tịch Quân ủy Trung ương
 
Thượng tướng Hứa Kỳ Lượng
Thượng tướng Phạm Trường Long, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương
Cơ quan
chủ quản
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Các cơ quan dưới quyền Bộ Tổng tham mưu
 
Tổng cục Chính trị
 
Tổng cục Hậu cần
 
Tổng cục Trang bị
Trang chủ
GOV.CN Bộ Quốc phòng Trung Quốc
The CMC is housed in the Ministry of National Defense compound ("August 1st Building")

Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (中华人民共和国中央军事委员会, Zhōnghuá Rénmín Gònghéguó Zhōngyāng Jūnshì Wěiyuánhuì, thường được gọi là Quân ủy Trung ương Trung Quốc) không phải là cơ quan trong cơ cấu tổ chức của Đảng Cộng Sản Trung Quốc mà là cơ quan Nhà nước lãnh đạo tập thể về quân sự, do Hiến pháp Trung Quốc quy định về tổ chức, cơ chế hoạt động, thành viên...,[cần dẫn nguồn] mang tính chất của một cơ quan đại nghị quân sự, được thành lập dựa trên hình mẫu của Ủy ban quân sự cách mạng do Đảng Cộng sản Bolsevist (Nga) lãnh đạo trong thời kỳ cách mạng tháng 10.[cần dẫn nguồn] Trong thời gian đầu của Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại (1941-1945), Nhà nước Liên Xô cũng thành lập Ủy ban quân sự Xô viết tối cao với cơ chế đại nghị do J.V.Stalin làm Chủ tịch. Nhưng chỉ sau một tuần, ngày 27 tháng 6 năm 1941, cơ quan này bị giải thể và thay vào đó là Đại bản doanh Bộ Tổng tư lệnh do J.V.Stalin làm Tổng tư lệnh, hoạt động theo cơ chế chỉ huy.

Thời kỳ trước năm 1983, cơ quan này có tên gọi Ủy ban quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Từ năm 1983 được gọi là Ủy ban quân sự Trung ương Trung Quốc.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ Ủy ban quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tháng 10 năm 1925, Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc (CPC) họp mở rộng và ra nghị quyết thành lập Ủy ban chiến dịch quân sự trung ương.
  • Tháng 12 năm 1925, Ủy ban Chiến dịch quân sự trung ương đổi tên thành Ban Quân sự trung ương do Chu Ân Lai lãnh đạo.
  • Cuối năm 1926, Ban Quân sự trung ương đổi tên thành Ủy hội quân sự Trung ương do Chu Ân Lai làm Tổng thư ký.
  • Tháng 11 năm 1927, Bộ chính trị lâm thời CPC quyết định cải tổ cơ quan này thành "Ban khoa học quân sự".
  • Tháng 7 năm 1928, Đại hội lần thứ 6 CPC quyết định phục hồi Ủy hội Quân sự trung ương. Chu Ân Lai trở lại làm Tổng thư ký cơ quan này.
  • Tháng 3 năm 1930, Trung ương CPC quyết định đổi tên Ủy hội quân sự Trung ương thành "Ủy ban quân sự Trung ương", là cơ quan lãnh đạo cao nhát về quân sự của Đảng, do Chu Ân Lai làm Bí thư.
  • Tháng 11 năm 1931, Trung Quốc học theo cách làm của Liên Xô, cải tổ Ủy ban quân sự Trung ương thành "Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ưong". Chu Đức được Bộ Chính trị chỉ định làm Chủ tịch lâm thời.
  • Tháng 2 năm 1936, tư lệnh các Phương diện quân 1, 2, 4 và 8 bầu Mao Trạch Đông làm chủ tịch "Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương".
  • Tháng 5 năm 1945, Tại Đại hội CPC lần thứ 7, Mao Trạch Đông được bầu làm Chủ tịch Đảng. Theo Điều lệ mới của CPC, Mao Trạch Đông đương nhiên là Chủ tịch "Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương".
  • Đầu năm 1946, "Ủy ban Quân sự Cách mạng Trung ương" đổi tên thành "Ủy ban Quân sự Cách mạng nhân dân Trung Quốc".
  • Tháng 10 năm 1949, theo Luật Tổ chức chính phủ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, "Ủy ban Quân sự Cách mạng nhân dân Trung Quốc" đổi thành "Ủy ban Quân sự Cách mạng của Chính phủ CHND Trung Hoa".
  • Ngày 28 tháng 9 năm 1954, "Ủy ban Quân sự Cách mạng của Chính phủ CHND Trung Hoa" cải tổ thành Ủy ban quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Mao Trạch Đông chỉ định Chu Đức làm Chủ tịch. Các thành viên gồm có: Chu Đức, Bành Đức Hoài, Lâm Bưu, Lưu Thiếu Kỳ, Hạ Long, Trần Nghị, Đặng Tiểu Bình, La Vinh Hoàn, Từ Hướng Tiền, Nhiếp Vinh TrănDiệp Kiếm Anh.

Thời kỳ Ủy ban quân sự Trung ương Trung Quốc[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ chế hình thành, tổ chức và hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Thành viên của cơ quan này không do bầu cử mà do chỉ định. Hiến pháp Trung Quốc quy định chỉ có Đảng Cộng sản Trung Quốc (mà trực tiếp là Bộ Chính trị) mới có quyền chỉ định thành viên của Quân ủy Trung ương Trung Quốc. Cơ chế hoạt động của Quân ủy Trung ương Trung Quốc có một số điểm gần giống với Hội đồng Quốc phòng của Việt Nam hiện nay nhưng điểm khác biệt rõ nhất là: Hội đồng Quốc phòng của Việt Nam là cơ quan có tính chất lâm thời, cố vấn cho Chủ tịch nước trong những vấn đề quốc phòng và việc thống lĩnh quân đội và chỉ được triệu tập khi có tình huống quốc phòng trong khi Quân ủy Trung ương Trung Quốc là cơ quan thường trực, hoạt động định kỳ, thường xuyên. Trên danh nghĩa Quân ủy Trung ương Trung Quốc là thống lĩnh tối cao các lực lượng vũ trang Trung Quốc nhưng trên thực tế, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Quốc mới là người thống lĩnh thật sự.

Quân ủy Trung ương Trung Quốc hiện nay gồm 11 thành viên thường trực, 9 thành viên không thường trực, trong đó có 18 thành viên là quân nhân và 2 thành viên dân sự được bố trí vào các chức vụ như sau:

  • Chủ tịch Quân ủy Trung ương: Là Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm chủ tịch nước
  • Phó Chủ tịch: Có 3 Phó Chủ tịch gồm: Thủ tướng Quốc vụ viện, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng tham mưu trưởng (Chủ nhiệm tổng bộ Tham mưu).
  • Các ủy viên: Bộ trưởng Bộ An ninh, Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị, Chủ nhiệm Tổng bộ Hậu cần, Chủ nhiệm Tổng bộ Trang bị. Tư lệnh các quân chủng Hải quân, Không quân và Tên lửa chiến lược (Trung Quốc gọi là "Đệ nhị pháo binh quân").

Tất cả các thành viên Quân ủy Trung ương đều do Thường vụ Bộ Chính trị chỉ định

Các thành viên dự thính gồm 7 tư lệnh của 7 Đại quân khu, Tư lệnh Cảnh sát vũ trang, Hiệu trưởng Đại học Quốc phòng và Viện trưởng Viện Khoa học quân sự.

Việc bổ nhiệm thành viên Quân ủy Trung ương dược thực hiện theo nguyên tắc "7 lên, 8 xuống". Nghĩa là tổi bổ nhiệm tối đa là 67 tuổi, tuổi mãn nhiệm là 68 tuổi.

Quân ủy Trung ương Trung Quốc bàn bạc và quyết định tất cả các vấn đề về quân sự và quốc phòng của đất nước mà không cần phải tham vấn ý kiến của Bộ Chính trị, Trung ương Đảng, Quốc hội hoặc Chính hiệp. Trong nghị sự, chỉ có các thành viên thường trực mới có quyền biểu quyết.

Quân ủy Trung ương Trung Quốc có một văn phòng thường trực riêng giúp cho việc hoạt động thường xuyên, định kỳ, là cơ quan đầu mối ngang bộ.

Danh sách Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc các khóa[sửa | sửa mã nguồn]

Khóa 18[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chủ tịch: Tổng bí thư Tập Cận Bình
  • Phó Chủ tịch:
  • Ủy viên:
    • Thượng tướng Thường Vạn Toàn - Bộ trưởng Quốc phòng
    • Thượng tướng Phòng Phong Huy - Tổng tham mưu trưởng
    • Thượng tướng Trương Dương - Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị
    • Thượng tướng Triệu Khắc Thạch - Chủ nhiệm Tổng bộ Hậu cần
    • Thượng tướng Trương Hựu Hiệp - Chủ nhiệm Tổng bộ Trang bị
    • Đô đốc Ngô Thắng Lợi - Tư lệnh Hải quân
    • Thượng tướng Mã Hiểu Thiên - Tư lệnh Không quân
    • Thượng tướng Ngụy Phương Hòa - Tư lệnh binh chủng Pháo binh 2 (Tên lửa chiến lược)

Khóa 17[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chủ tịch: Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào
  • Phó Chủ tịch:
    • Tập Cận Bình
    • Thượng tướng Quách Bá Hùng
    • Thượng tướng Từ Tài Hậu
  • Ủy viên:
    • Thượng tướng Lương Quang Liệt - Bộ trưởng Quốc phòng
    • Thượng tướng Trần Bỉnh Đức - Tổng tham mưu trưởng
    • Thượng tướng Lý Kế Nại - Chủ nhiệm Tổng bộ Chính trị
    • Thượng tướng Liêu Tích Long - Chủ nhiệm Tổng bộ Hậu cần
    • Thượng tướng Thường Vạn Toàn - Chủ nhiệm Tổng bộ Trang bị
    • Đô đốc Ngô Thắng Lợi - Tư lệnh Hải quân
    • Thượng tướng Hứa Kỳ Lượng - Tư lệnh Không quân
    • Thượng tướng Tĩnh Chí Viễn - Tư lệnh binh chủng Pháo binh 2 (Tên lửa chiến lược)

Quan hệ giữa chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương với các chức vụ cao cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Mao Trạch Đông từng tuyên bố: "Súng đẻ ra chính quyền" nên ở Trung Quốc, tướng lĩnh có tiếng nói mang sức nặng hơn các bộ trưởng và đại biểu quốc hội[cần dẫn nguồn]. Vì vậy, chức vụ cao cấp quan trọng nhất của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không phải là Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng (hoặc Tổng bí thư Đảng), Thủ tướng Quốc vụ viện mà là Chủ tịch Quân ủy Trung ương.

Trong thời kỳ trước năm 1949, khi chức vụ Chủ tịch quân ủy Trung ương được lập ra năm 1925, Trần Độc Tú giữ cả hai chức Tổng bí thư Đảng và Chủ tịch quân ủy Trung ương. Sau Hội nghị Tuân Nghĩa tháng 7 năm 1927, Trần Độc Tú bị hạ bệ, Chu Ân Lai là Bí thư trưởng, Cù Thu Bạch phụ trách trung ương (trong địch hậu), Mao Trạch Đông được cử làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Từ năm 1930 đến 1943, lần lượt Cù Thu Bạch, Vương Minh, Tần Bang Hiến (tức Bác Cổ), Trương Văn Thiên (tức Lạc Phủ) giữ chức vụ Tổng bí thư nhưng chức vụ Chủ tịch Quân ủy trung ương vẫn do Mao Trạch Đông liên tục nắm giữ. Đến năm 1943, tại Hội nghị Bộ Chính trị ngày 20 tháng 3 năm 1943 ở Diên An, các chức vụ Chủ tịch ủy ban Trung ương, Chủ tịch Bộ Chính trị, Chủ tịch Ban Bí thư được đặt ra và Mao Trạch Đông giữ tất cả các chức vụ này cùng với chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương cho đến năm 1965, bất chấp những sai lầm của ông trong thời kỳ "Đại nhảy vọt.

Tại Hội nghị toàn thể Trung ương Đảng lần thứ 11 khóa 8 (tháng 8 năm 1966), chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương được trao cho Lâm Bưu, phó Chủ tịch Đảng. Năm 1971, Lâm Bưu làm phản và chạy trốn, bị rơi máy bay, chết ở Mông Cổ, Chu Ân Lai tạm quyền Chủ tịch quân ủy trung ương. Năm 1976, Mao Trạch Đông chết, bè lũ 4 tên bị đem ra xét xử. Hoa Quốc Phong được bầu là Chủ tịch Đảng nhưng Diệp Kiếm Anh được chỉ định là Chủ tịch quân ủy Trung ương. Năm 1978, Đặng Tiểu Bình được phục hồi và giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Từ năm 1979 đến năm 1989, lần lượt Hồ Diệu Bang, Triệu Tử Dương làm Tổng bí thư nhưng Đặng Tiểu Bình vẫn giữ chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ông chỉ trao chức vụ này cho Giang Trạch Dân năm 1989, sau sự kiện Thiên An Môn. Năm 2002, Giang Trạch Dân thôi các chức vụ Tổng bí thư, Chủ tịch nước nhưng vẫn giữ chức vụ Chủ tịch Quân ủy Trung ương đến năm 2004 mới trao lại cho Hồ Cẩm Đào.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]