Quân khu (Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các Quân khu Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc

Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sử dụng hệ thống quân khu. Hệ thống này gọi là Đại quân khu (大军区) cũng có thể gọi là Quân khu. Trung Quốc hiện có 7 quân khu là:

Năm 1950, một năm sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, hệ thống 13 quân khu được thiết lập. Đến thập niên 1960, con số quân khu giảm xuống còn 11 là Thẩm Dương, Bắc Kinh, Lan Châu, Tân Cương, Tế Nam, Nam Kinh, Phúc Châu, Quảng Châu (bao gồm cả đảo Hải Nam), Vũ Hán, Thành Đô và Côn Minh. Hệ thống 11 quân khu sau đó giảm xuống chỉ còn 7 như ngày nay từ năm 1985-1988. Trong đó, Quân khu Tân Cương sáp nhập với Quân khu Lan Châu, Quân khu Côn Minh sáp nhập với Quân khu Thành Đô, Quân khu Nam Kinh sáp nhập với Quân khu Phúc Châu và cuối cùng, Quân khu Vũ Hán giải thể và được sáp nhập vào Quân khu Quảng ChâuQuân khu Tế Nam.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • International Institute for Strategic Studies, The Military Balance, 1979/80, 1981/82, 1988/89.
  • Chapter 8, PLA Ground Forces, by Dennis J Blasko, in The People's Liberation Army as Organisation, RAND, CF182.
  • Thomas C. Roberts, The Chinese People's Militia and Doctrine of People's War, National Security Affairs Monograph Series 83-4, 1983, National Defence University Press, Washington DC.
  • “National Military Command”. SinoDefence.com. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2007.