Lưu Thiếu Kỳ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lưu Thiếu Kỳ

Lưu Thiếu Kỳchữ Hán: 刘少奇, bính âm: líu shào qí; 24 tháng 11 năm 1898 - 12 tháng 11 năm 1969), là một trong những lãnh đạo hàng đầu của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhà cách mạng giai cấp vô sản (无产阶级革命家), chính trị gia và cũng là một lí luận gia. Ông từng là Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1959-68), Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Trung Quốc (1956-66).

Trong cuộc Cách mạng Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc Đại Cách mạng văn hóa vô sản, ông bị Khang Sinh, Giang Thanh vu cáo "phản bội, nội gian", "tay sai của đế quốc xét lại, Quốc Dân Đảng"

Tại Hội nghị Trung ương 12 khoá 8 họp tại Bắc Kinh từ 13 đến 31-10-1968[1] do Mao Trạch Đông chủ trì hội nghị, thông qua báo cáo thẩm tra về “tội ác” của Lưu Thiếu Kỳ do Giang Thanh đệ trình. Dưới sức ép của Mao-Lâm, bằng cách giơ tay biểu quyết, Hội nghị "nhất trí thông qua nghị quyết vĩnh viễn khai trừ Lưu Thiếu Kỳ ra khỏi Đảng",[2]

Nơi cuối cùng giam giữ Lưu Thiếu Kỳ là kho bạc của một ngân hàng có từ trước năm 1949, 6 giờ 40 phút sáng 12-11-1969, Lưu Thiếu Kỳ qua đời trong tình trạng không được cấp cứu. Thi thể ông được bí mật đưa đi hoả táng, dưới cái tên "Lưu Vệ Hoàng, không nghề nghiệp".

Sau năm, 1980 được xem xét lại toàn diện và khôi phục lại tất cả danh dự.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trong 97 uỷ viên Trung ương khoá 8 có 10 người chết, 47 người bị đánh đổ, chỉ còn 40 người đến họp. Mao đã cho bổ sung thêm 10 uỷ viên dự khuyết lên chính thức, cho đủ quá bán hợp lệ (50/97)
  2. ^ Chỉ có một phụ nữ không giơ tay: Bà Trần Thiếu Mẫn, uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Tổng Công hội Trung Quốc.