Kinh tế Ai Cập
| Kinh tế Ai Cập | ||
|---|---|---|
| Cairo skyline, nhìn từ Tháp Cairo | ||
| Tiền tệ | Egyptian pound (EGP) | |
| Năm tài chính | ||
| Tổ chức kinh tế | WTO | |
| Số liệu thống kê | ||
| GDP (PPP) | $452.5 tỉ USD (năm 2008) | |
| Tăng trưởng GDP | 4.7% (năm 2009) | |
| GDP đầu người | 5,500 USD (PPP) (2008 est.) | |
| GDP theo lĩnh vực | Nông nghiệp (13.4%), công nghiệp (37.6%), dịch vụ (48.9%) (2008 est.) | |
| Lạm phát (CPI) | 13% (Oct. 2009) | |
| Tỷ lệ nghèo |
14% | |
| Chỉ số Gini | 34.4 (2001) | |
| Lực lượng lao động | 24.72 triệu (2008 est.) | |
| Cơ cấu lao động theo nghề |
Nông nghiệp (32%), Công nghiệp (17%), Dịch vụ (51%) (2001 est.) | |
| Thất nghiệp | 9.37% (Oct. 2009) | |
| Các ngành chính | Dệt sợi, Chế biến thức ăn, Du lịch, hóa chất, Dược phẩm, Hydrocarbons, Xây dựng, Cement, kim loại, Chế tạo nhẹ | |
| Thương mại | ||
| Xuất khẩu | $33.36 tỉ f.o.b. (2008 est.) | |
| Mặt hàng XK | Dầu thô và sản phẩm từ dầu, Cotton, Dệt sợi, Metal Products, Hóa chất, hàng nông nghiệp | |
| Đối tác XK | Hoa Kỳ 9.7%, Italy 9.5%, Tây Ban Nha 7.6%, Syria 5.5%, Ả Rập Saudi 4.9%, Anh 4.2% (2007) | |
| Nhập khẩu | $56.43 tỉ f.o.b. (2008 est.) | |
| Mặt hàng NK | Máy móc và thiết bị, thực phẩm, Hóa chất, sản phẩm gỗ, dầu | |
| Đối tác NK | Hoa Kỳ 11.7%, Trung Quốc 9.7%, Italy 6.4%, Đức 6.3%, Ả Rập Saudi 4.7%, Nga 4.3% (2007) | |
| Tài chính công | ||
| Nợ công | $28.84 tỉ USD (31 tháng 12 năm 2008 est.) | |
| Thu | $40.46 tỉ USD (2008 est.) | |
| Chi | $51.38 tỉ USD (2008 est.) | |
| Viện trợ | ||
| Tất cả giá trị, ngoại trừ nêu khác đi, đều tính bằng đô la Mỹ | ||
Nằm ở phía đông bắc Ai Cập, đồng bằng châu thổ sông Nile là nơi tập trung hầu hết các hoạt động kinh tế của Ai Cập. Trong 30 năm qua, chính phủ đã cải cách lại nền kinh tế tập trung cao được thừa kế từ thời Tổng thống Gamal Abdel Nasser.
Trong những năm 1990, một loạt các thỏa thuận với Quỹ tiền tệ quốc tế, cùng với viện trợ lớn từ nước ngoài do việc tham gia của của Ai Cập trong liên minh Chiến tranh vùng Vịnh, đã giúp Ai Cập cải thiện hiệu quả nền kinh tế vĩ mô. Tốc độ cải cách cơ cấu, bao gồm các chính sách tài chính, tiền tệ, tư nhân hóa và các đạo luật kinh doanh mới đã giúp Ai Cập trở thành nền kinh tế thị trường, đầu tư nước ngoài tăng nhanh.
Các chương trình cải cách vẫn đang được tiến hành và chính phủ sẽ cần phải tiếp tục theo đuổi cải cách mạnh mẽ để duy trì tốc độ đầu tư nước ngoài và tăng trưởng, cải thiện điều kiện kinh tế hơn nữa cho người dân. Các ngành xuất khẩu của Ai Cập, đặc biệt là ngành xuất khẩu vàng và khí thiên nhiên có triển vọng tốt.