Gạo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cây lúa phổ biến ở châu Á, loài Oryza sativa
Gạo trắng hạt dài, đều,
thô, không làm giàu
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 1.527 kJ (365 kcal)
Cacbohydrat 79 g
Đường 0.12 g
Chất xơ thực phẩm 1.3 g
Chất béo 0.66 g
Protein 7.13 g
Nước 11.62 g
Thiamin (Vit. B1) 0.070 mg (5%)
Riboflavin (Vit. B2) 0.049 mg (3%)
Niacin (Vit. B3) 1.6 mg (11%)
Axit pantothenic (Vit. B5) 1.014 mg (20%)
Vitamin B6 0.164 mg (13%)
Axit folic (Vit. B9) 8 μg (2%)
Canxi 28 mg (3%)
Sắt 0.80 mg (6%)
Magie 25 mg (7%)
Mangan 1.088 mg (54%)
Phospho 115 mg (16%)
Kali 115 mg (2%)
Kẽm 1.09 mg (11%)
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngày của người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA

Gạo là một sản phẩm lương thực thu từ cây lúa. Hạt gạo thường có màu trắng, nâu hoặc đỏ thẫm, chứa nhiều dinh dưỡng. Hạt gạo chính là nhân của thóc sau khi xay để tách bỏ vỏ trấu. Hạt gạo sau khi xay được gọi là gạo lứt hay gạo lật, nếu tiếp tục xát để tách cám thì gọi là gạo xát hay gạo trắng. Gạo là lương thực phổ biển của gần một nửa dân số thế giới.

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Cây lúa hiện nay được nông dân gieo trồng là kết quả xử lý trong phòng thí nghiệm và lai tạo tự nhiên cũng như nhân tạo của nhiều thế kỷ từ cây lúa dại.

Vì quỹ đất có giới hạn, các nhà khoa học đang nghiên cứu biến đổi gien của cây lúa để tạo ra giống lúa mới có năng suất cao, chống được bệnh tật và thời tiết khắc nghiệt, đồng thời rút ngắn thời gian chăm bón và sớm cho thu hoạch. Những thành công ban đầu của lúa biến đổi gien đã được ghi nhận, song hiện các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất được liệu loại lúa này có tác động xấu đến sức khỏe con người hay không.

Lịch sử thuần hóa và trồng trọt[sửa | sửa mã nguồn]

Có khá nhiều tranh cãi về nguồn gốc thuần hóa gạo. Các bằng chứng về di truyền được công bố trong Proceedings of the National Academy of Sciences of the United States of America (PNAS) cho thấy rằng tất cả các dạng gạo châu Á, gồm cả indicajaponica, bắt nguồn từ một loài thuần hóa đã bắt đầu cách nay 8.200–13.500 năm ở Trung Quốc từ loài lúa gạo hoang Oryza rufipogon.[1] Một nghiên cứu công bố năm 2012 trong tạp chí Nature, đưa ra một bản đồ biến đổi gen lúa gạo, đã chỉ ra rằng việc thuần hóa cây lúa đã diễn ra ở thung lũng sông Pearl của Trung Quốc dựa trên bằng chứng gen. Từ Đông Á, lúa được phát tán về phía nam và Đông Nam Á.[2] Trước nghiên cứu này, quan điểm được chấp nhận rộng rãi dựa trên các bằng chứng khảo cổ học thì cho rằng lúa được thuần hóa đầu tiên ở thung lũng sông Dương Tử ở Trung Quốc.[3][4]

Các nghiên cứu về hình thái của gạo từ di chỉ khảo cổ thể hiện rõ ràng sự chuyển tiếp từ việc thu nhặt lúa hoang đến việc trồng lúa gạo thuần hóa. Một số lượng lớn phytolith lúa gạo hoang ở Diaotonghuan có tuổi từ 12.000–11.000 BP chỉ ra rằng việc thu lượm lúa hoang là một phần trong khẩu phần ăn của dân địa phương. Những thay đổi về hình thái của Diaotonghuan phytoliths có tuổi từ 10.000–8.000 BP cho thấy lúa gạo đã được thuần hóa từ lúc này.[5] Không lâu sau đó, hai loại lúa chính là indicajaponica được trồng ở miền trung Trung Quốc.[4] Vào cuối thiên niên kỷ 3 TCN, có sự mở rộng nhanh chóng trong việc trồng trọt lúa gạo trên đất liền của Đông nam Á và về phía tây đến Ấn Độ và Nepal.[4]

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Gạo là sản phẩm từ cây lúa và nằm trong một quá trình sản xuất nông nghiệp, thường bao gồm những khâu chính sau: làm đất, chọn thóc giống, gieo hạt, ươm mạ, cấy, chăm bón (bón phân, đổ nước), gặt và xay xát.

Gạo là nguồn thu nhập và cuộc sống của hàng triệu nông dân trên toàn thế giới. Họ dùng khoảng 150 triệu hecta hàng năm để trồng lúa, với sản lượng khoảng 600 triệu tấn.

Châu Á là nơi sản xuất và cũng là nơi tiêu thụ khoảng 90% lượng gạo toàn thế giới.

châu Phi, gần như toàn bộ 38 nước đều trồng lúa trong tổng số 54 quốc gia, song diện tích lúa ở MadagascarNigeria chiếm 60% tổng diện tích lúa tương đương 8,5 triệu hecta của châu lục này. Năng suất lúa của châu Phi thấp, khoảng 1,5 tấn/ha và chỉ bằng 40% năng suất của châu Á.

Phần lớn cây lúa nói đến trong sản xuất là lúa nước (tức ruộng lúa phải ngập nước theo một tiêu chuẩn khắt khe), song cũng có những loài lúa mọc trên ở vùng đồi núi mà ít cần đến công tác thủy lợi.

Gieo trồng[sửa | sửa mã nguồn]

Việc trồng lúa phù hợp nhất tại các khu vực với chi phí nhân công thấp và lượng mưa lớn, do nó đòi hỏi nhiều nhân công để gieo trồng và cần nhiều nước để phát triển tốt. Tuy nhiên, lúa có thể trồng ở bất kỳ đâu, thậm chí ở cả các sườn đồi hay núi. Lúa là loại cây trồng đứng hàng thứ ba trên thế giới, chỉ sau ngôlúa mì. Mặc dù các loài lúa có nguồn gốc ở khu vực miền nam châu Á và một phần nào đó của châu Phi, nhưng hàng thế kỷ thương mại và xuất khẩu thóc, gạo đã làm cho nó trở thành phổ biến trong nhiều nền văn minh.

Một người phụ nữ đang nhổ mạ

Lúa thông thường được gieo hay cấy trong các ruộng lúa nước - các mảnh ruộng được tưới hay ngâm trong một lớp nước không sâu lắm với mục đích đảm bảo nguồn nước cho cây lúa và ngăn không cho cỏ dại phát triển. Khi cây lúa đã phát triển và trở thành chủ yếu trong các ruộng lúa thì nước có thể tưới tiêu theo chu kỳ cho đến khi thu hoạch mùa màng. Các ruộng lúa có tưới tiêu nước làm tăng năng suất, mặc dù lúa có thể trồng tại các vùng đất khô hơn (chẳng hạn các ruộng bậc thang ở sườn đồi) với sự kiểm soát cỏ dại nhờ các biện pháp hóa học.

Ở một vài khu vực có mực nước sâu, người ta cũng có thể trồng các giống lúa mà dân gian gọi nôm na là lúa nổi. Các giống lúa này có thân dài có thể chịu được mực nước sâu tới trên 2 mét (6 ft).

Ruộng lúa (Oryza sativa) tại Vườn thực vật hoàng gia Kew, Luân Đôn

Các ruộng lúa nhiều nước còn là môi trường sinh sống thích hợp cho nhiều loài chim như , vạc, diệc hay chim chích, nhiều loài động vật lưỡng cư như ếch, nhái hay bò sát như rắn hoặc các động vật giáp xác như tôm, tép, cua hay ốc. Nhiều loài động vật có các chức năng hữu ích trong việc kiểm soát các loài sâu bệnh.

Dù trồng trong ruộng nước hay ruộng khô thì cây lúa vẫn đòi hỏi một lượng nước lớn hơn nhiều so với các loại cây trồng khác. Việc gieo trồng lúa là một công việc chứa đựng các yếu tố mâu thuẫn tại một vài khu vực, chẳng hạn tại Hoa KỳAustralia, là các khu vực mà việc gieo trồng lúa chiếm tới 7% tài nguyên nước của các quốc gia này nhưng chỉ tạo ra 0,02% GDP. Tuy nhiên, tại các quốc gia có mùa mưa - bão theo chu kỳ thì việc gieo trồng lúa còn có tác dụng giữ cho việc cung cấp nước được duy trì ổn định hơn cũng như ngăn chặn lũ lụt không bị đột ngột.

Sản xuất lúa gạo ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

các loại hạt gạo khác nhau trên thế giới

Việt Nam có hai vùng trồng lúa chính là đồng bằng sông Hồng ở phía bắc và đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam. Hàng năm sản lượng của cả nước đạt 33-34 triệu tấn thóc, trong đó chỉ sử dụng khoảng 8 triệu tấn (tương đương 4 triệu tấn gạo sau khi xay xát) cho xuất khẩu, còn lại là tiêu thụ trong nước và bổ sung dự trữ quốc gia.

miền Bắc một năm có hai vụ lúa chính: vụ chiêm và vụ mùa.

Ở miền Nam, nông dân trồng ba vụ một năm: vụ đông xuân (có sản lượng cao nhất và thóc cũng đạt chất lượng tốt nhất cho xuất khẩu), vụ hè thu và vụ ba. Do lũ hàng năm ở đồng bằng sông Cửu Long trong những năm gần đây ảnh hưởng đến sản xuất, một phần nữa người dân có thể kiếm lời ổn định hơn từ việc nuôi thủy sản (tôm) hay trồng cây ăn quả, chính quyền đã khuyến cáo nông dân giảm và chuyển đổi một phần đất trồng lúa vụ ba.

Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là bộ chủ quản, quản lý việc sản xuất lúa gạo của Việt Nam.

Các loại gạo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Gạo xuất khẩu ở Thái Lan gồm: gạo thơm và gạo trắng hạt dài.
  • Gạo ở Việt Nam gồm: gạo nếp, gạo tấm và gạo tẻ
  • Các thể loại khác: gạo basmati (Ấn Độ)
  • gạo ở Iran bao gồm: Gerdeh[6], Hansani[6], Hashemi[6], và Gharib[6]

Gạo - lương thực[sửa | sửa mã nguồn]

Cối giã gạo tại Nhật Bản vào khoảng thập niên 1920

Hạt thóc trước tiên được xay để tách lớp vỏ ngoài, đây là gạo xay còn lẫn trấu. Quá trình này có thể được tiếp tục, nhằm loại bỏ mầm hạt và phần còn sót lại của vỏ, gọi là cám, để tạo ra gạo. Gạo sau đó có thể được đánh bóng bằng glucoza hay bột tan (talc) trong một quy trình gọi là đánh bóng gạo, chế biến thành bột gạo hoặc thóc được chế biến thành loại thóc luộc thô. Gạo cũng có thể được bổ sung thêm các chất dinh dưỡng, đặc biệt là các chất bị mất đi trong quá trình xay xát. Trong khi phương pháp đơn giản nhất là trộn thêm các chất dinh dưỡng dạng bột mà rất dễ bị rửa trôi theo nước (tại Hoa Kỳ thì gạo được xử lý như vậy cần có tem mác cảnh báo chống rửa/vo gạo) thì phương pháp phức tạp hơn sử dụng các chất dinh dưỡng trực tiếp lên trên hạt gạo, bao bọc hạt gạo bằng một lớp chất không hòa tan trong nước có tác dụng chống rửa trôi.

Trong khi việc rửa gạo làm giảm sự hữu ích của các loại gạo được làm giàu thì nó lại là cực kỳ cần thiết để tạo ra hương vị thơm ngon hơn và ổn định hơn khi gạo đánh bóng (bất hợp pháp tại một số quốc gia, như Hoa Kỳ) được sử dụng.

Cám gạo, gọi là nukaNhật Bản, là một mặt hàng có giá trị ở châu Á và được dùng cho nhiều nhu cầu thiết yếu hàng ngày. Nó là lớp chất dầu ẩm ướt bên trong được đun nóng lên để sản xuất một loại dầu ăn có lợi cho sức khỏe. Ứng dụng khác là để làm một loại rau dầm có tên gọi là tsukemono.

Tại nhiều nơi, gạo còn được nghiền thành bột để làm nhiều loại đồ uống như amazake, horchata, sữa gạo và rượu sakê. Bột gạo nói chung an toàn cho những người cần có chế độ ăn kiêng gluten.

Gạo là một nguồn cung cấp năng lượng cho cơ thể. Con người hấp thụ chất bột và một số vitamin từ gạo. Có khoảng 2 tỉ người ở châu Á dùng gạo và các chế phẩm từ gạo để bổ sung 60% tới 70% nguồn năng lượng hàng ngày cho cơ thể.

Chế biến và nấu ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Gạo chưa xát (gạo lứt)

Sản phẩm chủ yếu từ gạo là cơm. Gạo có thể nấu thành cơm nhờ cách luộc trong nước (vừa đủ) hay bằng hơi nước. Các nồi cơm điện rất phổ biến ở châu Á, đã đơn giản hóa quá trình này.

Gạo cũng có thể nấu thành cháo bằng cách cho nhiều nước hơn bình thường. Bằng cách này gạo sẽ được bão hòa về nước và trở thành mềm, nở hơn. Các món cháo rất dễ tiêu hóa và vì thế nó đặc biệt thích hợp cho những người bị ốm.

Khi nấu các loại gạo chưa xát bỏ hết cám, một cách thức nấu ăn giữ được các chất dinh dưỡng gọi là Cơm GABA hay GBR[7] có thể sử dụng. Nó bao gồm việc ngâm gạo trong khoảng 20 giờ trong nước ấm (38 °C hay 100 °F) trước khi nấu. Quá trình này kích thích sự nảy mầm, và nó kích hoạt các enzym có trong gạo. Bằng cách này, người ta có thể thu giữ được nhiều axit amin hơn.

Hàm lượng dinh dưỡng của các thực phẩm thiết yếu[8]
Vật liệu: Ngô / Bắp[A] Gạo[B] Lúa mì[C] Khoai tây[D] Sắn/Củ mì[E] Đậu tương (xanh)[F] Khoai lang[G] Lúa miến[H] Khoai[Y] Chuối[Z]
Thành phần (trong 100g) Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng Hàm lượng
Nước (g) 10 12 13 79 60 68 77 9 70 65
Năng lượng (kJ) 1528 1528 1369 322 670 615 360 1419 494 511
Protein (g) 9.4 7.1 12.6 2.0 1.4 13.0 1.6 11.3 1.5 1.3
Chất béo (g) 4.74 0.66 1.54 0.09 0.28 6.8 0.05 3.3 0.17 0.37
Cacbohydrat (g) 74 80 71 17 38 11 20 75 28 32
Chất xơ (g) 7.3 1.3 12.2 2.2 1.8 4.2 3 6.3 4.1 2.3
Đường (g) 0.64 0.12 0.41 0.78 1.7 0 4.18 0 0.5 15
Canxi (mg) 7 28 29 12 16 197 30 28 17 3
Sắt (mg) 2.71 0.8 3.19 0.78 0.27 3.55 0.61 4.4 0.54 0.6
Magiê (mg) 127 25 126 23 21 65 25 0 21 37
Phốt pho (mg) 210 115 288 57 27 194 47 287 55 34
Kali (mg) 287 115 363 421 271 620 337 350 816 499
Natri (mg) 35 5 2 6 14 15 55 6 9 4
Kẽm (mg) 2.21 1.09 2.65 0.29 0.34 0.99 0.3 0 0.24 0.14
Đồng (mg) 0.31 0.22 0.43 0.11 0.10 0.13 0.15 - 0.18 0.08
Mangan (mg) 0.49 1.09 3.99 0.15 0.38 0.55 0.26 - 0.40 -
Selen (μg) 15.5 15.1 70.7 0.3 0.7 1.5 0.6 0 0.7 1.5
Vitamin C (mg) 0 0 0 19.7 20.6 29 2.4 0 17.1 18.4
Thiamin (mg) 0.39 0.07 0.30 0.08 0.09 0.44 0.08 0.24 0.11 0.05
Riboflavin (mg) 0.20 0.05 0.12 0.03 0.05 0.18 0.06 0.14 0.03 0.05
Niacin (mg) 3.63 1.6 5.46 1.05 0.85 1.65 0.56 2.93 0.55 0.69
Axit Pantothenic (mg) 0.42 1.01 0.95 0.30 0.11 0.15 0.80 - 0.31 0.26
Vitamin B6 (mg) 0.62 0.16 0.3 0.30 0.09 0.07 0.21 - 0.29 0.30
Folate Tổng (μg) 19 8 38 16 27 165 11 0 23 22
Vitamin A (IU) 214 0 9 2 13 180 14187 0 138 1127
Vitamin E, alpha-tocopherol (mg) 0.49 0.11 1.01 0.01 0.19 0 0.26 0 0.39 0.14
Vitamin K1 (μg) 0.3 0.1 1.9 1.9 1.9 0 1.8 0 2.6 0.7
Beta-caroten (μg) 97 0 5 1 8 0 8509 0 83 457
Lutein+zeaxanthin (μg) 1355 0 220 8 0 0 0 0 0 30
axit béo bảo hòa (g) 0.67 0.18 0.26 0.03 0.07 0.79 0.02 0.46 0.04 0.14
Chất béo không bảo hòa đơn (g) 1.25 0.21 0.2 0.00 0.08 1.28 0.00 0.99 0.01 0.03
Chất kéo không bảo hòa kép (g) 2.16 0.18 0.63 0.04 0.05 3.20 0.01 1.37 0.08 0.07
A ngô, vàng B gạo, trắng, hạt dài, thông thường, chưa làm sạch
C lúa mì, hạt đỏ cứng mùa đông D khoai tây, tươi còn vỏ
E củ mì, tươi F đậu tương, xanh, tươi
G khoai lang, tươi, chưa chế biến H lúa miến, tươi
Y khoai, tươi Z chuối, tươi

Gạo - hàng hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sản xuất gạo theo quốc gia - 2012
(triệu tấn)[9]
 Trung Quốc 204.3
Flag of India.svg Ấn Độ 152.6
 Indonesia 69.0
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam 43.7
 Thái Lan 37.8
 Bangladesh 33.9
 Myanmar 33.0
 Philippines 18.0
Flag of Brazil.svg Brasil 11.5
 Nhật Bản 10.7
Nguồn:FAO

Sản xuất gạo toàn cầu [10] đã tăng lên đều đặn từ khoảng 200 triệu tấn vào năm 1960 tới 600 triệu tấn vào năm 2004. Gạo đã xay xát chiếm khoảng 68% trọng lượng thóc ban đầu. Năm 2004, ba quốc gia sản xuất lúa gạo hàng đầu là Trung Quốc (31% sản lượng thế giới), Ấn Độ (20%) và Indonesia (9%). Theo FAO năm 2005 thế giới sản xuất 628 triệu tấn gạo, đạt mức kỷ lục, nhờ giá cả tăng trong năm 2004 làm tăng diện tích trồng trọt.

Năm 2008, sản lượng lúa gạo của Trung Quốc đạt 193 triệu tấn, Ấn Độ 148 triệu tấn, Indonesia 60 triệu tấn, Bangladesh 47 triệu tấn, Việt Nam 39 triệu tấn, Thái LanMyanma cùng đạt 30,5 triệu tấn[11].

Các số liệu về xuất nhập khẩu gạo lại khác hẳn, do chỉ khoảng 5-6% gạo được buôn bán ở quy mô quốc tế. Ba nhà xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới là Thái Lan (26% sản lượng gạo xuất khẩu), Việt Nam (15%) và Hoa Kỳ (11%), trong khi ba nhà nhập khẩu gạo lớn nhất là Indonesia (14%), Bangladesh (4%) và Brasil (3%).

Hàng năm có khoảng trên 20 triệu tấn gạo được dùng làm hàng hóa buôn bán trên toàn thế giới. Tổ chức Nông Lương (FAO) của Liên Hiệp Quốc cho biết năm 2006 sản lượng gạo hàng hóa có thể đạt 27,8 triệu tấn, so với 29 triệu tấn trong năm 2005.

Nước tiêu thụ
Tiêu thụ gạo theo quốc gia – 2009
(triệu tấn thóc)[12]
Tổng thế giới 531.6
 China 156.3
 India 123.5
 Indonesia 45.3
 Bangladesh 38.2
 Vietnam 18.4
 Philippines 17.0
 Thailand 13.7
 Japan 10.2
 Burma 10.0
 Brazil 10.0

Năm 2009, tiêu thụ gạo trên thế giới là 531,6 triệu tấn lúa (tương đương 354.603 tấn gạo), trong đó Trung Quốc tiêu thụ 156,3 triệu tấn lúa (chiếm 29,4% toàn thế giới) và Ấn Độ tiêu thụ 123,5 triệu tấn lúa (23,3% của thế giới).[12] Giữa các năm 1961 và 2002, tiêu thụ gạo trên đầu người tăng 40%.

Lúa gạo là cây trồng quan trọng nhất ở châu Á. Ví dụ, ở Campuchia 90% tổng diện tích đất nông nghiệp là trồng lúa.[13]

Tiêu thụ gạo của Hoa Kỳ tăng mạnh trong vòng 25 năm qua, một phần dùng để sản xuất các sản phẩm từ gạo như bia.[14] Gần 1/5 người Mỹ trưởng thành ăn ít nhất nửa khẩu phần gạo trắng hoặc nâu mỗi ngày.[15]

Các nước tiêu thụ gạo chính gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Philippines, Indonesia, Malaysia, Iraq, Iran, Algérie, Nigeria, Tanzania.

Khủng hoảng thiếu gạo[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu từ khoảng cuối tháng 3 năm 2008, tình hình thiếu thốn lương thực - đặc biệt là gạo - trên toàn thế giới diễn ra hết sức nhanh chóng[16][17]. Theo dự đoán của bộ Nông nghiệp Mỹ, trong năm 2008 trữ lượng gạo toàn cầu sẽ giảm xuống tới mức thấp nhất trong 25 năm qua, có thể gây ra "cơn đói" mới. Giá gạo liên tục tăng gấp nhiều lần chỉ trong vài tháng, mặc dù theo thông báo sản lượng gạo của các nước xuất khẩu gạo vẫn liên tục tăng.

Nguyên nhân của cuộc khủng hoảng[sửa | sửa mã nguồn]

Có rất nhiều nguyên nhân được đưa ra về cuộc khủng hoảng gạo lần này, tuy nhiên theo nhiều chuyên gia thì chủ yếu do các nguyên nhân sau[18]:

  • Sự xao lãng vấn đề nông nghiệp của một số nước.
  • Vấn đề qui hoạch không hợp lý.
  • Sự khó khăn của các nhà cung cấp & chủ trương hạn chế xuất khẩu gạo của một số nước XK gạo.
  • Sự tăng giá các mặt hàng thiết yếu trên phạm vi toàn cầu (dầu...) dẫn đến chi phí sản xuất tăng.
  • Thiếu đất, thiếu nước, thiếu nguồn lao động nông nghiệp.
  • Thiếu những nguồn đầu tư cần thiết cho nông nghiệp.

Tác động môi trường[sửa | sửa mã nguồn]

Đo đạc khí nhà kính phát sinh từ cây lúa.

Trồng lúa gạo trên các mảnh ruộng đất ngập nước được cho là góp 1,5% khí metan phát thải vào môi trường.[19][20] Do các mảnh ruộng ngập nước lâu ngày làm cách ly ôxy từ khí quyển vào đất làm phát sinh các phản ứng lên men kị khí trong đất.[21] Trồng lúa gạo cần nhiều nước hơn các lại ngũ cốc khác.[22] Trong khi đó sản xuất gạo cần gần 1/3 lượng nước ngọt trên Trái Đất.[23]

Một nghiên cứu năm 2010 cho thấy rằng hậu quả của việc gia tăng nhiệt độ và giảm lượng bức xạ trong những năm cuối của thế kỷ 20 làm cho tỉ lệ tăng năng suất ở một vài nơi thuộc châu Á giảm, so với những nơd9uo775c quan sát không thấy xảy ra xu hướng này.[24][25] Tỉ lệ tăng sản lượng đã giảm 10–20% ở một số nơi. Nghiên cứu ghi nhận ở 227 nông trại ở Thái Lan, Việt Nam, Nepal, Ấn Độ, Trung Quốc, Bangladesh, và Pakistan. Cơ chế của sự tụt giảm năng suất này vẫn chưa được rõ ràng, nhưng có lẽ liên quan đến sự gia tăng hô hấp trong những ngày ấm làm tiêu tốn năng lượng cho việc quang hợp.

Sâu bệnh và tác nhân gây hại[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác nhân gây hại đối với lúa gạo là những loài sinh vật hay vi sinh vật có khả năng làm giảm sản lượng hoặc giá trị của cây lúa (hoặc hạt gạo).[26] Các tác nhân gây hại như cỏ dại, dịch bệnh, côn trùng, động vật gặm nhấm, và chim. Nhiều yếu tố có thể làm dịch bệnh bùng phát như, khí hậu-thời tiết, công tác thủy lợi không đúng cách, sử dụng quá nhiều thuốc trừ sâu và sử dung nhiều phân đạm.[27] Ví dụ như dịch các loài trong họ CecidomyiidaeSpodoptera mauritia bùng phát sau những đợt mưa lớn đầu mùa mưa trong khi đó các loài trong bộ Cánh viền bùng phát vào mùa khô hạn.[28]

Côn trùng[sửa | sửa mã nguồn]

Côn trùng gây hại chính cho cây lúa là Rầy nâu (BPH),[29] nhiều loài thuộc nhóm sâu đục thân như các loài thuộc chi ScirpophagaChilo,[30] Cecidomyiidae,[31] các loài trong nhóm bugs[32] – nổi tiếng là trong chi Leptocorisa,[33] sâu cuốn lámọt gạo.

Dịch bệnh[sửa | sửa mã nguồn]

Bệnh đạo ôn, do loài nấm Magnaporthe grisea gây ra, là loại bệnh đáng chú ý nhất gây ảnh hưởng tới năng suất lúa. Các loại dịch bệnh khác như: Rhizoctonia solani, Rice ragged stunt virus (vector truyền bệnh: BPH), và tungro (vector truyền bênh: Nephotettix spp).[34] Cũng có loại nấm ascomycete, Cochliobolus miyabeanus gây bệnh đốm nâu trên lúa.[35][36]

Lúa còn bị một số sâu bệnh phá hoại như cháy cổ lá, bạc lá, rầy nâu (Nilaparvata lugens), châu chấu, bọ trĩ, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen, rầy xám, các loài bọ xít (họ Pentatomidae) như bọ xít đen, bọ xít xanh, bọ xít dài, bọ xít gai, sâu cuốn lá nhỏ, sâu cuốn lá lớn, sâu đục thân lúa hai chấm, sâu năm vạch đầu nâu, sâu năm vạch đầu đen, sâu cú mèo, sâu keo, sâu cắn gié, sâu đo xanh, ruồi đục nõn, sâu nâu, v.v.

Giun tròn[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiều loài giun tròn nhiễm cây lúa gây ra các bệnh như Ufra (Ditylenchus dipsaci), White tip disease (Aphelenchoide bessei), và bệnh thối rễ (Meloidogyne graminicola). Một số loài giun tròn như Pratylenchus spp. là nguy hiểm nhất trong lúa nương của tất cả các nơi trên thế giới. Tuyến trùng rễ lúa (Hirschmanniella oryzae) là một loài kí sinh trong di cư mà mức độ lây nhiễm cao hơn sẽ dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn của một vụ lúa. Ngoài việc ảnh hưởng của ký sinh trùng, chúng cũng làm giảm sức sống của thực vật và tăng tính nhạy cảm của cây đối với các sâu bệnh khác.

Các tác nhân gây hại khác[sửa | sửa mã nguồn]

Các tác nhân gây hại khác như ốc Pomacea canaliculata, panicle rice mite, chuột đồng,[37] và cỏ dại Echinochloa crusgali.[38]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ doi:10.1073/pnas.1104686108
    Hoàn thành chú thích này
  2. ^ Huang, Xuehui; et, al. (2012). “A map of rice genome variation reveals the origin of cultivated rice”. Nature 490 (7421): 497–501. doi:10.1038/nature11532. PMID 23034647. 
  3. ^ Vaughan, DA; Lu, B; Tomooka, N (2008). “The evolving story of rice evolution”. Plant Science 174 (4): 394–408. doi:10.1016/j.plantsci.2008.01.016. 
  4. ^ a ă â Harris, David R. (1996). The Origins and Spread of Agriculture and Pastoralism in Eurasia. Psychology Press. tr. 565. ISBN 1-85728-538-7. 
  5. ^ MacNeish R. S. and Libby J. eds. (1995) Origins of Rice Agriculture. Publications in Anthropology No. 13.
  6. ^ a ă â b Pazuki, Arman & Sohani, Mehdi (2013). “Phenotypic evaluation of scutellum-derived calluses in ‘Indica’ rice cultivars” (PDF). Acta Agriculturae Slovenica 101 (2): 239–247. doi:10.2478/acas-2013-0020. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2014. 
  7. ^ Shoichi Ito và Yukihiro Ishikawa, Đại học Tottori, Nhật Bản. “Tiếp thị các sản phẩm gạo gia tăng giá trị tại Nhật Bản: Gạo nảy mầm và bánh mì gạo”. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2004. 
  8. ^ “Nutrient data laboratory”. United States Department of Agriculture. Truy cập tháng 6 năm 2014. 
  9. ^ fao.org (FAOSTAT). “Countries by commodity (Rice, paddy)”. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2014. 
  10. ^ Tất cả các số liệu lấy từ thống kê của UNCTAD 1998-2002 và IRRI (truy cập tháng 9 năm 2005)
  11. ^ FAO. “Sản lượng lúa gạo năm 2008”. faostat.fao.org. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010. 
  12. ^ a ă FAO (FAOSTAT). “Food Balance Sheets > Commodity Balances > Crops Primary Equivalent”. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2012. 
  13. ^ Puckridge, Don (2004) The Burning of the Rice, Temple House Pty, ISBN 1877059730.
  14. ^ United States Department of Agriculture (USDA) Economic Research Service. “Briefing Rooms: Rice”. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2008. 
  15. ^ Iowa State University (tháng 7 năm 2005). Rice Consumption in the United States: New Evidence from Food Consumption Surveys. 
  16. ^ Thế giới đang khủng hoảng gạo?
  17. ^ Nguy cơ khủng hoảng thiếu gạo
  18. ^ Nguồn gốc thiếu gạo
  19. ^ “World Greenhouse Gas Emissions: 2005”. World Resources Institute. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2013. 
  20. ^ “World Greenhouse Gas Emissions in 2005”. World Resources Institute. 
  21. ^ Neue Heinz-Ulrich (1993). “Methane emission from rice fields: Wetland rice fields may make a major contribution to global warming”. BioScience 43 (7): 466–73. doi:10.2307/1311906. JSTOR 1311906. 
  22. ^ report12.pdf Virtual Water Trade – Proceedings of the International Expert Meeting on Virtual Water Trade, p. 108
  23. ^ http://www.economist.com/news/leaders/21601850-technological-breakthroughs-rice-will-boost-harvests-and-cut-poverty-they-deserve-support
  24. ^ Welch, Jarrod R.; Vincent, J.R.; Auffhammer, M.; Dobermann, A.; Moya, P.; Dawe, D. (2010). “Rice yields in tropical/subtropical Asia exhibit large but opposing sensitivities to minimum and maximum temperatures”. Proc. Natl. Acad. Sci. U.S.A. 107 (33): 14562–7. doi:10.1073/pnas.1001222107. PMC 2930450. PMID 20696908. 
  25. ^ Black, Richard (August 9, 2010) Rice yields falling under global warming BBC News Science & Environment. Retrieved August 9, 2010.
  26. ^ Jahn, Gary C.; JA Litsinger, Y Chen and A Barrion (2007). “Integrated Pest Management of Rice: Ecological Concepts”. Trong O Koul and GW Cuperus. Ecologically Based Integrated Pest Management. CAB International. tr. 315–366. ISBN 978-1-84593-064-6. 
  27. ^ Jahn, Gary C.; Almazan, Liberty P.; Pacia, Jocelyn B. (2005). “Effect of Nitrogen Fertilizer on the Intrinsic Rate of Increase ofHysteroneura setariae(Thomas) (Homoptera: Aphididae) on Rice (Oryza sativaL.)”. Environmental Entomology 34 (4): 938. doi:10.1603/0046-225X-34.4.938. 
  28. ^ Douangboupha, B, K Khamphoukeo, S Inthavong, J Schiller, and GC Jahn. 2006. Pests and diseases of the rice production systems of Laos. Chapter 17, pp. 265–281. In JM Schiller, MB Chanphengxay, B Linquist, and S Appa Rao, editors. Rice in Laos. Los Baños (Philippines): IRRI.ISBN 978-971-22-0211-7.
  29. ^ Preap, V; Zalucki, MP and Jahn, GC (2006). “Brown planthopper outbreaks and management”. Cambodian Journal of Agriculture 7 (1): 17–25. [liên kết hỏng]
  30. ^ IRRI Rice insect pest factsheets. knowledgebank.irri.org
  31. ^ Benett J, Bentur JC, Pasula IC and Krishnaiah K (eds) (2004). New approaches to gall midge resistance in rice. International Rice Research Institute and Indian Council of Agricultural Research, ISBN 9712201988.
  32. ^ Jahn, GC; Domingo, I; Almazan, ML; Pacia, J; Pacia, Jocelyn (2004). “Effect of rice bug Leptocorisa oratorius (Hemiptera: Alydidae) on rice yield, grain quality, and seed viability”. Journal of economic entomology 97 (6): 1923–7. doi:10.1603/0022-0493-97.6.1923. PMID 15666746. 
  33. ^ Jahn, GC; Domingo, I; Almazan, ML; Pacia, J. (2004). “Effect of rice bug Leptocorisa oratorius (Hemiptera: Alydidae) on rice yield, grain quality, and seed viability”. J Econ Entomol 97 (6): 1923–7. doi:10.1603/0022-0493-97.6.1923. PMID 15666746. 
  34. ^ IRRI Rice Diseases factsheets. Knowledgebank.irri.org. Retrieved on 2012-05-13.
  35. ^ Rice Brown Spot: essential data. CBWinfo.com. Retrieved on 2012-05-13.
  36. ^ Cochliobolus . Invasive.org (May 4, 2010). Retrieved on 2012-05-13.
  37. ^ Singleton G, Hinds L, Leirs H and Zhang Zh (Eds.) (1999) "Ecologically-based rodent management" ACIAR, Canberra. Ch. 17, pp. 358–371 ISBN 1-86320-262-5.
  38. ^ Pheng, S, B Khiev, C Pol and GC Jahn (2001). “Response of two rice cultivars to the competition of Echinochloa crus-gali (L.) P. Beauv”. International Rice Research Institute Notes (IRRN) 26 (2): 36–37.