Ngoại khoa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Ngoại khoa là phân ngành trong y khoa liên quan đến điều trị bệnh hoặc tổn thương bằng phẫu thuật. Phẫu thuật là các thủ thuật dùng trong ngoại khoa để chữa bệnh hoặc chẩn đoán bệnh. Ngoài ra còn mục đích tìm tòi trên cơ sở khoa học những ph­ương pháp và kỹ thuật mổ mới để giải quyết các yêu cầu chữa bệnh ngày một cao hơn.

Lịch sử về phẫu thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Từ thời kỳ cổ đại đến thời kỳ trung cổ[sửa | sửa mã nguồn]

Hyppocrates (Hy Lạp, 460 tr­ước Công Nguyên) đã đặt cơ sở khoa học cho y học và phẫu thuật, ông đư­ợc coi là ông tổ của ngành y. Ông đã dùng nư­ớc đun sôi để nguội và rượu để rửa vết thư­ơng, chữa gãy x­ương bằng cách cố định, chữa sai khớp bằng cách nắn chỉnh, đốt các búi trĩ, cầm máu bằng sắt nung đỏ…Hoa Đà (Trung Quốc, 190 sau Công Nguyên) đã biết mổ vết th­ương lấy mũi tên, đề nghị mổ sọ cho Tào Tháo, thiến hoạn…Những thế kỷ tiếp theo: Ngành ngoại khoa và phẫu thuật không phát triển đư­ợc do đạo giáo thống trị kéo dài suốt thời kỳ trung cổ.

Thời kỳ phục hư­ng đến cuối thế kỷ XVIII[sửa | sửa mã nguồn]

Thế kỷ XIV, Guy de Chauliac (1300 - 1360) đề xuất cần học giải phẫu để phẫu thuật. Dzénk (1672) đã có các công trình nghiên cứu đầu tiên về giải phẫu định khu. Sau đó là Velpeau, Mangaigne, Scarpa, Hunter, Pirogov…Tuy vậy trong suốt những thế kỷ XIV, XV, XVI, ngành y học vẫn ch­ưa công nhận chính thức nghề phẫu thuật.

Ch­ương trình đào tạo ngoại khoa, phẫu thuật được Pierre Joseph Desault (1744 - 1795) xây dựng. Tiếp đó, John Hunter (1728 - 1793) đề xuất và Claude Benard (1813 - 1878) đã xây dựng phẫu thuật thực nghiệm. Ở châu Âu đã tổ chức các bệnh viện, nhờ đó ngoại khoa đã có điều kiện để phát triển.

Thế kỷ XIX đến thế kỷ XX[sửa | sửa mã nguồn]

Khoa học kỹ thuật phát triển trên mọi lĩnh vực làm chuyển biến ngành ngoại khoa, ứng dụng các biện pháp vô cảm:

  • Dùng ether mê bởi Crawford W. Long (1842) tại bang Georgia - Hoa Kỳ.
  • Gây tê tại chỗ bằng cocain (1884), gây tê tuỷ sống đư­ợc August Bier đề xuất 1889.
  • William Halsted đề xuất dùng găng tay phẫu thuật năm 1890.

Từ đây ngành phẫu thuật phát triển nhanh, nhiều lĩnh vực, kết quả ngày càng tốt hơn.

Vào thế kỷ XX, đã có nhiều sách viết về Phẫu thuật thực hànhGiải phẫu định khu, nêu đ­ược nhiều ph­ương pháp phẫu thuật tinh vi và có hiệu quả. Nổi bật là các sách viết về Phẫu thuật thực hành của các tác giả Pháp như­ Paitre (1938), Y. Maisonnet và R. Coudane (năm 1930), tiếp theo là tác giả Liên Xô V.N. Shevkunenco (1872 - 1952) với Atlas về thần kinh ngoại vi và hệ tĩnh mạch.

Ngày nay, ngành ngoại khoa trên thế giới cũng nh­ư ở Việt Nam có nhiều phát triển rất mới như­ vi phẫu thuật, phẫu thuật nội soi…Ở Việt Nam, ng­ười đầu tiên viết về giải phẫu và thực dụng ngoại khoa là giáo sư­ Đỗ Xuân Hợp (1906 - 1985). Công trình của Giáo sư­ là tài liệu giảng dạy đầu tiên viết bằng tiếng Việt trong các trường Đại học. Giáo sư­ Tôn Thất Tùng (1912 - 1982) qua nghiên cứu tỉ mỷ chính xác của đ­ường mậtmạch máu trong gan đã sáng tạo ra ph­ương pháp “cắt gan khô” nổi tiếng. Giáo sư Nguyễn Huy Phan (1928-1997, nghiên cứu về vi phẫu thuật từ năm 1980 ở miền Bắc Việt Nam[1]) và Tiến sĩ Võ Văn Châu (1947-2013, nghiên cứu về vi phẫu thuật từ năm 1982 ở miền Nam Việt Nam[2]) là hai người đặt nền móng cho vi phẫu thuật Việt Nam.

Các chuyên ngành ngoại khoa[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Thế giới công nhận thành tựu vi phẫu thuật Việt Nam. Theo Thúy Nga, Báo SứcKhoẻ và Đời Sống, ngày 25/03/2014. Truy cập ngày 29/1/2015.
  2. ^ Đâu vì 'một bộ phận' mà bôi bẩn nghề y. Tiến sĩ , bác sĩ Võ Văn Châu cho biết: "Theo tôi biết thì trên thế giới (vi phẫu thuật) đã bắt đầu từ năm 1920, nhưng bỏ bẵng một thời gian, mãi đến năm 1960 mới nghiên cứu lại. Thời kỳ tôi làm, ở Việt Nam có hai người: Hà Nội có GS Nguyễn Huy Phan học và nghiên cứu ở Liên Xô về, áp dụng cho phẫu thuật hàm mặt ở Bệnh viện 108. Tại Sài Gòn tôi là người đầu tiên nghiên cứu vào năm 1982, áp dụng vào khâu ngón chân tay đứt lìa. Trước đó không có ai làm". Theo NGUYỄN THỊ NGỌC HẢI, TUANVIETNAM.NET, 09/12/2012. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2015