Quần đảo Senkaku

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Các đảo tranh chấp
Quần đảo Senkaku
Tên khác:
tiếng Nhật: 尖閣諸島 (Senkaku)
tiếng Trung: 釣魚台列嶼 (Điếu Ngư Đài)
hay 钓鱼岛及其附属岛屿 (Điếu Ngư)
Quần đảo Pinnacle
Diaoyutai senkaku.png
Vị trí của quần đảo (hình vuông màu đỏ và bản đồ lồng).
1. Uotsuri Jima/đảo Điếu Ngư


2. Taisho Jima/đảo Xích Vĩ
3. Kuba Jima/đảo Hoàng Vĩ
4. Kita Kojima/Bắc tiểu đảo
5. Minami Kojima/Nam tiểu đảo
6. Okino Kitaiwa/Bắc tự
7. Okino Minami-iwa/Nam tự


8. Tobise/Phi tự
Địa lý
Vị trí Biển Hoa Đông
Tọa độ 25°47′53″B 124°03′21″Đ / 25,79806°B 124,05583°Đ / 25.79806; 124.05583
Tổng số đảo 5 + 3 đá
Các đảo chính Uotsuri Jima / Diaoyu Dao
Taisho Jima / Chiwei Yu
Kuba Jima / Huangwei Yu
Kita Kojima / Bei Xiaodao
Minami Kojima / Nan Xiaodao
Diện tích 7 kilômét vuông (1.700 mẫu Anh)
Độ cao cao nhất 383 mét (1.257 ft)
Quản lý
Quốc gia quản lý  Nhật Bản
Thành phố Ishigaki, Okinawa
Tranh chấp giữa
Quốc gia  Nhật Bản
Thành phố Ishigaki, Okinawa

Quốc gia

 Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Tỉnh Đài Loan

Quốc gia

 Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan)
Trấn Đầu Thành, Nghi Lan, tỉnh Đài Loan

Quần đảo Senkaku (尖閣諸島 (Tiêm Các chư đảo) Senkaku Shotō?, các biến thể: Senkaku-guntō[1]Senkaku-rettō[2]), cũng gọi là quần đảo Điếu Ngư hay quần đảo Điếu Ngư Đài (Trung văn phồn thể: 釣魚台群島; bính âm: Diàoyútái Qúndǎo) tại Đài Loan,[3]đảo Điếu Ngư cùng các đảo phụ thuộc (Trung văn giản thể: 钓鱼岛及其附属岛屿; bính âm: Diàoyúdǎo jí qí fùshǔ dǎoyǔ) tại Trung Quốc đại lục,[3] hay cũng gọi đơn giản là đảo Điếu Ngư (钓鱼岛) hay quần đảo Pinnacle, là một nhóm gồm các đảo không người ở do Nhật Bản kiểm soát ở biển Hoa Đông. Các đảo nằm về phía đông của Trung Quốc đại lục, về phía đông bắc của Đài Loan, về phía tây của đảo Okinawa, và ở phía bắc cực tây nam của quần đảo Ryukyu (đảo Yonaguni).

Từ khi Hoa Kỳ trao quyền quản lý các đảo cho Nhật Bản năm 1971, quyền sở hữu các đảo bị tranh chấp giữa Nhật Bản với Cộng hòa Nhân dân Trung HoaTrung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Trung Quốc tuyên bố rằng họ đã phát hiện và kiểm soát các đảo từ thế kỷ 14. Nhật Bản đã kiểm soát các đảo từ năm 1895 cho đến khi đầu hàng kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Hoa Kỳ quản lý quần đảo như là một phần của Chính quyền dân sự Hoa Kỳ tại quần đảo Ryukyu từ năm 1945 đến năm 1972, khi chúng được trao cho Nhật Bản theo Hiệp ước trao trả Okinawa giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản.[4]

Quần đảo là một vấn đề trong quan hệ giữa Nhật Bản và CHND Trung Hoa, cũng như giữa Nhật Bản và THDQ.[5] Mặc dù có sự phức tạp giữa quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan, CHND Trung Hoa và THDQ đều chấp thuận rằng các đảo là một phần của huyện Nghi Lan thuộc tỉnh Đài Loan. Nhật Bản không công nhận Đài Loan là một quốc gia có chủ quyền,[3] và coi quần đảo là một phần của thành phố Ishigaki, tỉnh Okinawa và không thừa nhận tuyên bố chủ quyền của CHND Trung Hoa và THDQ đối với các đảo.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời kỳ ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Các ghi chép về những hòn đảo này đã có từ thế kỷ 15. Chúng được gọi là Điếu Ngư trong các thư tịch như Thuận phong tương tống (順風相送) (1403) [6]sứ Lưu Cầu lục (使琉球錄) (1534). Cả tên tiếng Trung của nhóm đảo (Diaoyu, Điếu Ngư) và tên tiếng Nhật của đảo chính (Uotsuri, Ngư Điếu) đều có nghĩa là "câu cá".

Mô tả được công bố đầu tiên về quần đảo tại châu Âu là trong một cuốn sách do Isaac Titsingh nhập khẩu vào năm 1796. Thư viện sách Nhật văn nhỏ bé của ông có quyển Sangoku Tsūran Zusetsu (三国通覧図説 Tam quốc thông lãm đồ thuyết?) của Hayashi Shihei.[7] Văn bản này được lưu hành tại Nhật Bản vào năm 1785, mô tả về vương quốc Lưu Cầu.[8] Năm 1832, Quỹ Phiên dịch Đông phương của Anh và Ireland đã hỗ trợ xuất bản di cảo tóm tắt bản dịch tiếng Pháp của Titsingh.[9]

Tư liệu đầu tiên về quần đảo trong một cuốn sách tiếng Anh là tại miêu tả năm 1848 của Edward Belcher trong chuyến hành trình dài ngày của thuyền Sammarang.[10] Thuyền trưởng Belcher đã quan sát thấy rằng "các tên gọi được ấn định trong vùng này được thừa nhận quá vội vàng."[11] Belcher tường thuật là đã bỏ neo ngoài khơi đảo Pinnacle trong tháng 3 năm 1845.[12]

Vào thập niên 1870 và 1880, tên tiếng Anh "Pinnacle Islands" được hải quân Anh Quốc sử dụng để gọi các đá liền kề với đảo lớn nhất Uotsuri Jima/Diaoyu Dao (khi đó gọi là Hoa-pin-su); Kuba Jima/Huangwei Yu (khi đó gọi là Ti-a-usu); và Taishō Jima/Chiwei Yu.[13] Tên gọi "Pinnacle Islands" được một số nguồn tiếng Anh sử dụng tương đương với "Senkaku" hay "Điếu Ngư".[14]

Năm 1900, khi Tsune Kuroiwa, một giáo viên tại tỉnh Okinawa, đến thăm các đảo, ông đã đặt cho chúng tên gọi Senkaku Retto (尖閣列島 (Tiêm Các liệt đảo)?), nghĩa là dãy đảo gác nhọn, để đề cập đến nhóm đảo, dựa trên tên tiếng Anh.[15] Tài liệu chính thức đầu tiên ghi tên Senkaku Retto là của Bộ Ngoại giao Nhật Bản trong Nihon Gaiko Monjo (日本外交文書, Nhật Bản Ngoại giao văn thư) vào thập niên 1950.[15] Trong tiếng Nhật, Sentō Shosho (尖頭諸嶼 (Tiêm Đầu chư tự)?)Senkaku Shosho (尖閣諸嶼 (Tiêm Các chư tự)?) cũng là các tên gọi được một số nguồn dùng để dịch "Pinnacle Islands". Sau đó, toàn bộ nhóm đảo được gọi là Senkaku Rettō, rồi trở thành Senkaku Shotō.[15]

Việc sử dụng tên gọi "Senkaku" để chỉ toàn bộ nhóm đảo trong tiếng Anh bắt đầu cùng với sự khởi đầu cho các tranh cãi về chủ quyền vào thập niên 1970.[16]

Nhật Bản và Hoa Kỳ kiểm soát[sửa | sửa mã nguồn]

Các công nhân Nhật Bản tại một nhà máy chế biến cá ngừ tại Uotsuri Jima vào khoảng năm 1910[17]

Chính quyền trung ương Nhật Bản chính thức sáp nhập quần đảo vào ngày 14 tháng 1 năm 1895. Khoảng năm 1900, doanh nhân người Nhật Koga Tatsushirō (古賀 辰四郎?) đã xây dựng một nhà máy chế biến cá ngừ tại quần đảo với 200 công nhân. Việc kinh doanh đã thất bại vào năm 1940 và quần đảo từ đó vẫn bị bỏ hoang.[17] Đến thập niên 1970, các hậu duệ của Koga Tatsushirō đã bán bốn hòn đảo nhỏ cho gia tộc Kurihara ở tỉnh Saitama. Kurihara Hiroyuki sở hữu các đảo Uotsuri, Kita Kojima, và Minami Kojima. Còn một người chị/em gái của Hiroyuki thì sở hữu đảo Kuba.[18]

Hòn đảo nằm dưới sự chiếm đóng của Hoa Kỳ vào năm 1945.[17] Năm 1969, Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á và Viễn Đông của Liên Hiệp Quốc (ECAFE) đã xác định tiềm năng dự trữ dầu mỏ và khí đốt trong vùng lân cận quần đảo Senkaku.[19] Năm 1971, Hiệp ước trao trả Okinawa đã được Thượng viện Hoa Kỳ thông qua[20], trong khi chính quyền Đài Loan và Trung Quốc cũng bắt đầu chính thức tuyên bố quyền sở hữu các hòn đảo.

Kể từ khi quần đảo trở lại dưới quyền kiểm soát của Nhật Bản vào năm 1972, thị trưởng Ishigaki đã được trao quyền quản lý dân sự đối với lãnh thổ này. Tuy nhiên, chính quyền trung ương Nhật Bản đã cấm thành phố Ishigaki thực hiện công việc trắc địa hay phát triển quần đảo.[17][21] Năm 1979, một phái đoàn chính thức của chính phủ Nhật Bản gồm 50 học giả, quan chức chính quyền từ các bộ Ngoại giao và Giao thông, các quan chức đến từ Cơ quan Phát triển Okinawa (nay không còn tồn tại), và Kurihara Hiroyuki, đã viếng thăm quần đảo và cắm trại tại Uotsuri trong khoảng bốn tuần. Phái đoàn nghiên cứu hệ sinh thái địa phương, tìm kiếm chuột chũi và dê, nghiên cứu sinh vật biển địa phương, và khảo sát xem các đảo này có hỗ trợ cho cuộc sống của con người hay không.[22]

Từ năm 2002, Bộ Nội vụ và Truyền thông (Tổng vụ tỉnh) đã trả cho gia đình Kurihara 25 triệu Yên mỗi năm để thuê Uotsuri, Minami Kojima và Kita Kojima. Bộ Quốc phòng (Phòng vệ tỉnh) đã thuê đảo Kuba với một số tiền chưa được tiết lộ. Chính quyền trung ương Nhật Bản đã hoàn toàn sở hữu đảo Taisho.[22][23] Ngày 11 tháng 9 năm 2012, nội các Nhật Bản đã quyết định đã quyết định dùng ngân sách dự trữ để chi trả số tiền là 2,05 tỷ Yên (khoảng 26,15 triệu USD) cho gia đình Kurihara để "quốc hữu hóa" ba hòn đảo. Quyết định này đã bị phía Trung Quốc phản đối, thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo tuyên bố rằng nước ông sẽ "không lùi một tấc nào" trong cuộc tranh chấp chủ quyền này.[24]

Ngày 17 tháng 12 năm 2010, thành phố Ishigaki tuyên bố ngày 14 tháng 1 là "ngày Tiên phong". Trung Quốc đã phản đối hành động này của thành phố Ishigaki.[25] Năm 2012, cả chính quyền thủ đô Tokyo và chính quyền trung ương Nhật Bản đều tuyên bố có kế hoạch mua lại các đảo Uotsuri, Kita Kojima, và Minami Kojima từ gia đình Kurihara.[22]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí quần đảo Senkaku tại biển Hoa Đông

Quần đảo có năm đảo nhỏ không có người ở và ba đá cằn cỗi. Quần đảo nằm trên biển Hoa Đông, cách xấp xỉ 120 hải lý về phía đông bắc Đài Loan, 200 hải lý về phía đông Trung Quốc đại lục và cách 200 hải lý về phía tây nam của đảo Okinawa của Nhật Bản.[26]

Theo thứ tự tăng dần:

Ngày 3 tháng 3 năm 2012, Cục Hải dương Nhà nước Trung Quốc đã công bố 71 tên tiêu chuẩn của đảo Điếu Ngư cùng đảo phụ thuộc khác.[28]


Danh sách các đảo với tên gọi chính thức hiện thời
Tên Nhật Bản[29] Tên Trung Quốc[30][31]
(CHNDTH)
Tên Đài Loan[32]
(THDQ)
Tọa độ Diện tích Độ cao tối đa Miêu tả Hình ảnh
魚釣島
Uotsuri Shima
Ngư Điếu đảo
钓鱼岛
Diàoyú Dǎo
Điếu Ngư đảo
釣魚臺
Diàoyútái
Điếu Ngư Đài
25°46′B 123°31′Đ / 25,767°B 123,517°Đ / 25.767; 123.517 3,82 km²
363 m
Nằm cách đảo Ishigaki 170 km về phía tây bắc, cách Ôn Châu 356 km về phía đông nam, cách Phúc Châu 385 km về phía đông, cách Cơ Long 190 km về phía đông bắc. Chiều dài đông-tây là 250 m. Là đảo lớn nhất của quần đảo Senkaku-uotsuri.jpg
久場島
Kuba Shima
Cửu Trường đảo
黄尾屿
Huángwěi Yǔ
Hoàng Vĩ tự
黃尾嶼
Huángwěi Yǔ
Hoàng Vĩ tự
25°56′B 123°41′Đ / 25,933°B 123,683°Đ / 25.933; 123.683 1,55 km²
117 m
Nằm cách đảo Ishigaki 160 km về phía bắc, cách đảo Uotsuri 27 km về phía đông bắc Kubajima of Senkaku Islands.jpg
大正島
Taishō Tō
Đại Chính đảo
赤尾屿
Chìwěi Yǔ
Xích Vĩ tự
赤尾嶼
Chìwěi Yǔ
Xích Vĩ tự
25°55′B 124°34′Đ / 25,917°B 124,567°Đ / 25.917; 124.567 0,06 km²
75 m
Nằm cách đảo Ishigaki 150 km về phía bắc, cách đảo Uotsuri 103 km, nằm biệt lập ở cực đông của quần đảo Taisyoujima of Senkaku Islands.jpg
北小島
Kita Kojima
Bắc tiểu đảo
北小岛
Běixiǎo Dǎo
Bắc tiểu đảo
北小島
Běixiǎo Dǎo
Bắc tiểu đảo
25°45′B 123°36′Đ / 25,75°B 123,6°Đ / 25.750; 123.600 0,31 km²
118 m
Nằm cách đảo Iriomote 160 km về phía bắc, cách đảo Uotsuri 5 km về phía đông, nằm sát Minami Kojima Kitakojima and Minamikojima of Senkaku Islands.jpg
南小島
Minami Kojima
Nam tiểu đảo
南小岛
Nánxiǎo Dǎo
Nam tiểu đảo
南小島
Nánxiǎo Dǎo
Nam tiểu đảo
25°45′B 123°36′Đ / 25,75°B 123,6°Đ / 25.750; 123.600 0,40 km²
149 m
Nằm cách đảo Uotsuri 5,5 km về phía đông, sát Kita Kojima
沖の北岩
Okino Kitaiwa
Xung (no) Bắc nham
北屿
Běi Yǔ
Bắc tự
沖北岩
Chōngběi Yán
Xung Bắc nham
25°49′B 123°36′Đ / 25,817°B 123,6°Đ / 25.817; 123.600 0,05 km²
28 m
Nằm cách đảo Ishigaki 160 km về phía bắc, cách đảo Uotsuri 6 km về phía đông bắc. Bao gồm hai đá phía đông và tây[33] Okinokitaiwa of Senkaku Islands.jpg
沖の南岩
Okino Minami- iwa
Xung [no] Nam nham
南屿
Nán Yǔ
Nam tự
沖南岩
Chōngnán Yán
Xung Nam nham
25°47′B 123°37′Đ / 25,783°B 123,617°Đ / 25.783; 123.617 0,01 km²
13 m
Nằm cách đảo Ishigaki 160 km về phía bắc, cách đảo Uotsuri 7,5 km về phía đông Okinominamiiwa of Senkaku Islands.jpg
飛瀬
Tobise
Phi lại
飞屿
Fēi Yǔ
Phi tự
飛瀨
Fēi Lài
Phi lại
25°45′B 123°33′Đ / 25,75°B 123,55°Đ / 25.750; 123.550 0,01 km²
2 m
Nằm cách đảo Ishigaki 160 km về phía bắc, cách đảo Uotsuri 1,5 km về phía đông. Tobise of Senkaku Islands.jpg

Độ sâu vùng nước xung quanh thềm lục địa của quần đảo là xấp xỉ 100–150 mét (328–492 ft) ngoại trừ máng Okinawa ở phía nam.[34]

Sự tồn tại của bồn trũng sau cung làm phức tạp thêm vấn đề mô tả. Theo giáo sư Quý Quốc Hưng (季国兴) của Ban Châu Á-Thái Bình Dương tại Đại học Ngoại quốc ngữ Thượng Hải,

  • Giải thích của Trung Quốc là

    "...Máng Okinawa chứng minh rằng thềm lục địa của Trung Quốc và Nhật Bản là không kết nối, Máng phục vụ như là ranh giới tự nhiên giữa chúng, và rằng không nên bỏ qua Máng này...."[35]

  • Giải thích của Nhật Bản là

    "...Máng chỉ là một vùng lõm ngẫu nhiên trong một rìa lịc địa liên tục giữa hai nước... [và] máng nên được bỏ qua...."[35]

Động thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Việc cho phép thu nhập các thảo mộc trên ba hòn đảo của nhóm đã được ghi lại trong một chiếu chỉ của nhà Thanh vào năm 1893.[36]

Uotsuri Jima, hòn đảo lớn nhất, có một số loài đặc hữu như chuột chũi Senkaku (Mogera uchidai) và kiến Okinawa-kuro-oo-ari. Chuột chũi Senkaku là một loài có nguy cơ tuyệt chủng; sự tồn tại của nó bị đe dọa bởi những con dê được đưa đến đảo vào năm 1978.[37]

Chim hải âu lớn được theo dõi trên quần đảo.[38] Trong tất cả các đảo, Minami Kojima là một trong số ít những nơi sinh sản của Hải âu lớn đuôi ngắn (Phoebastria albatrus).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ National Geospatial-Intelligence Agency, Senkaku-guntō, Japan, Truy cập 20 tháng 10 năm 2010.
  2. ^ National Geospatial-Intelligence Agency, Senkaku-rettō, Japan, Truy cập 20 tháng 10 năm 2010.
  3. ^ a ă â WantChinaTimes.com (8 tháng 7 năm 2012). “Former New Taipei councilor explains PRC flag controversy”. WantChinaTimes.com. Truy cập 21 tháng 7 năm 2012. 
  4. ^ Lee, Seokwoo. (2002). Territorial Disputes Among Japan, China and Taiwan Concerning the Senkaku Islands, pp. 10–13. tại Google Books
  5. ^ McDorman, Ted L. (2005). "Central Pacific and East Asian Maritime Boundaries" in International Maritime Boundaries, Vol. 5, pp. 3441. tại Google Books
  6. ^ Nội dung: Thuận phong tương tống--Chỉ nam chính pháp. (順風相送--指南正法). ISBN 7-101-02025-9. tr96 và tr253. Văn bản đầy đủ có thể xem tại Wikisource.
  7. ^ WorldCat, Sangoku Tsūran Zusetsu; alternate romaji Sankoku Tsūran Zusetsu
  8. ^ Cullen, Louis M. (2003). A History of Japan, 1582–1941: Internal and External Worlds, p. 137. tại Google Books
  9. ^ Klaproth, Julius. (1832). San kokf tsou ran to sets, ou Aperçu général des trois royaumes, tr 169–180. tại Google Books
  10. ^ Suganuma, Unryu. (2001). Sovereign Rights and Territorial Space in Sino-Japanese Relations, tại Google Books
  11. ^ Belcher, Edward. (1848). Narrative of the Voyage of H.M.S. Samarang, Vol. I, pp. 315. tại Google Books; Belcher, Vol. II, pp. 572–574. tại Google Books.
  12. ^ Belcher, Vol. I, tại Google Books; trích dẫn trang 317, "On the 16th, we endeavoured to obtain observations on Tia-usu; a landing was effected, but the absence of sun prevented our obtaining satisfactory observations, and bad weather coming on hastened our departure. This group, comprehending Hoa-pin-san (Uotsuri Jima), Pinnacle Rocks, and Tias-usu (Kuba Jima), form a triangle, of which the hypothenuse, or distance between Hoa-pin-san and Tia-usu, extends about fourteen miles, and that between Hoa-pinsan and the Southern Pinnacle, about two miles."
  13. ^ Suganuma, p. 90. tại Google Books; Jarrad, Frederick W. (1873). The China Sea Directory, Vol. IV, pp. 141–142. tại Google Books
  14. ^ Hagström, Linus. (2005). Japan's China Policy: A Relational Power Analysis, tại Google Books
  15. ^ a ă â Unryu Suganuma (2000). Sovereign Rights and Territorial Space in Sino-Japanese Relations. University of Hawaii Press. tr. 89–97. ISBN 0824824938. 
  16. ^ Koo, Min Gyo (2009). Disputes and Maritime Regime Building in East Asia, p. 103 n2. citing Park (1973) "Oil under Troubled Waters: The Northeast Asia Seabed Controversy," 14 HILJ (Harvard International Law Journal) 212, 248–249; also Park, Choon-Ho. (1972)Continental Shelf Issues in the Yellow Sea and the East China Sea. Kingston, Rhode Island: Law of the Sea Institute, pp. 1–64.
  17. ^ a ă â b Kaneko, Maya, (Kyodo News) "Ishigaki fishermen fret over Senkaku encroachment", Japan Times, 8 tháng 12 năm 2010, p. 3.
  18. ^ Ito, Masami, "Owner OK with metro bid to buy disputed Senkaku Islands", Japan Times, 18 tháng 5 năm 2012, tr 1-2
  19. ^ “Senkaku/Diaoyutai Islands”. Globalsecurity.org. 
  20. ^ Finney, John W. "Senate Endorses Okinawa Treaty; Votes 84 to 6 for Island's Return to Japan," New York Times. 11 tháng 11 năm 1971.
  21. ^ Ito, Masami, "Jurisdiction over remote Senkakus comes with hot-button dangers", Japan Times, 18 tháng 5 năm 2012, p. 1
  22. ^ a ă â Ito, Masami, "Owner OK with metro bid to buy disputed Senkaku Islands", Japan Times, 18 tháng 5 năm 2012, pp. 1-2
  23. ^ Hongo, Jun, "Tokyo's intentions for Senkaku islets", Japan Times, 19 April 2012, p. 2.
  24. ^ “Nhật dùng ngân sách dự trữ để mua đảo tranh chấp”. Vietnamplus. 9 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012. 
  25. ^ AFP, "Senkaku memorial day riles China", Japan Times, December 19, 2010, p. 1. Truy cập 29 tháng 1 năm 2011.
  26. ^ UC Berkeley: UC Institute on Global Conflict and Cooperation; retrieved November 15, 2010.
  27. ^ Agreement on the Conservation of Albatrosses and Petrals (ACAP), Breeding site details: Agincourt/P'eng-chia-Hsu
  28. ^ 羅沙 (3 tháng 3 năm 2012). “國家海洋局、民政部受權公布我國釣魚島及其部分附屬島嶼標準名稱”. 新華網 (Bắc Kinh: 新華通訊社). 
  29. ^ 排他的経済水域等の基礎となる 低潮線を有する離島に関する調査報告書
  30. ^ 国家海洋局 (3 tháng 3 năm 2012). “国家海洋局 民政部受权公布我国钓鱼岛及其部分附属岛屿标准名称”. Bắc Kinh: 中华人民共和国国家海洋局. 
  31. ^ 中华人民共和国民政部 (3 tháng 3 năm 2012). “民政部 国家海洋局受权公布我国钓鱼岛及其部分附属岛屿标准名称”. Bắc Kinh: 中华人民共和国民政部. 
  32. ^ 中華民國內政部. “釣魚臺列嶼簡介”. 中華民國內政部. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2012. 
  33. ^ 沖縄大百科事典刊行事務局 『沖縄大百科事典(上巻)』 沖縄タイムス社、1983年、594頁
  34. ^ Ji, Guoxing. (1995). "Maritime Jurisdiction in the Three China Seas," p. 11; Sibuet, Jean-Claude et al. "Back arc extension in the Okinawa Trough," Journal of Geophysical Research, Vol. 92, Issue B13, p. 14041-14063.
  35. ^ a ă Ji, Maritime Jurisdiction in the Three China Seas, tr 11.
  36. ^ Ji, p. 11; excerpt, "In 1893, Empress Dowager Tsu Shih of the Qing Dynasty issued an imperial edict.... China argues that discovery accompanied by some formal act of usage is sufficient to establish sovereignty over the islands."
  37. ^ Zoological Society of London, EDGE (Evolutionary Distinct & Globally Endangered) Senkaku mole, 2006; Truy cập 15 tháng 1 năm 2010.
  38. ^ Porcasi, Judith F. (1999). "Prehistoric Exploitation of Albatross on the Southern California Channel Islands," Journal of California and Great Basin Anthropology. Vol. 21 (1), pp. 109, citing Hasegawa, Hiroshi. (1979). "Status of the Short-tailed Albatross of Torishimia and in the Senkaku Retto in 1978/79. Pacific Seabird Group Bulletin 6:23–25; and Hasegawa, Hiroshi and Anthony R. Degange. (1982). "The Short-tailed Albatross, 'Diamedea albatrus, Its Status, Distribution and Natural History." American Birds, 36(5):806–814.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]