Microsoft Windows

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Microsoft Windows
Windows logo and wordmark - 2012.svg
Biểu trưng Windows hiện tại (giới thiệu năm 2012)
Công ty / Nhà phát triển Microsoft
Ngôn ngữ lập trình Hợp ngữ, C, C++[1]
Họ Windows 9x
Windows CE
Windows NT
Tình trạng Phát hành công khai
Kiểu mã nguồn Mã nguồn đóng
Phát hành lần đầu 20 tháng 11 năm 1985 (1985-11-20) (28 năm trước) (Windows 1.0)
Đối tượng Máy tính cá nhân
Ngôn ngữ Đa ngôn ngữ (137 ngôn ngữ)[2]
Hình thức nâng cấp Windows Update
Windows Anytime Upgrade
Nền tảng hỗ trợ ARM, IA-32, Itanium, x86-64
Kiểu nhân
Giao diện người dùng Windows Shell
Giấy phép Phần mềm thương mại độc quyền
Trang mạng windows.microsoft.com

Microsoft Windows là tên của các dòng phần mềm hệ điều hành độc quyền của hãng Microsoft. Lần đầu tiên Microsoft giới thiệu một môi trường điều hành mang tên Windows (Cửa sổ) là vào tháng 11 năm 1985 với những tín năng thêm vào Hệ điều hành đĩa từ Microsoft giao diện dụng hộ đồ hoạ (Graphical User Interfaces, gọi tắt là GUI) - đang được sự quan tâm cao vào thời điểm này đồng thời để cạnh tranh với hãng Apple Inc.

  • Windows khởi đầu được phát triển cho những máy tính tương thích với IBM (dựa vào kiến trúc x86 của Intel), và ngày nay hầu hết mọi phiên bản của Windows đều được tạo ra cho kiến trúc này (tuy nhiên Windows NT đã được viết như là một hệ thống xuyên cấu trúc cho bộ xử lý Intel và MIPS, và sau này đã xuất hiện trên các cấu trúc PowerPCDEC Alpha. Sự phổ biến của Windows đã khiến bộ xử lý trung ương của Intel trở nên phổ biến hơn và ngược lại. Thật vậy, thuật ngữ Wintel đã được sử dụng để miêu tả những máy tính cá nhân đang chạy một phiên bản của Windows.
  • Từ đó đến nay Microsoft Windows dần dần chiếm ưu thế trong thị trường máy tính cá nhân trên toàn thế giới với số lượng được cài đặt khoảng 90% vào năm 2004. Windows là phần mềm nguồn đóng có bản quyền do công ty Microsoft giữ và kiểm soát việc phân phối. Vì lý do này, Microsoft đang có một vị trí độc quyền trong lĩnh vực máy tính cá nhân. Tất cả các phiên bản hệ điều hành gần đây của Windows đều dựa trên sự phát triển từ phiên bản đầu tiên.

Miêu tả về hệ điều hành Windows[sửa | sửa mã nguồn]

  • Một hệ điều hành đa nhiệm (multi tasking) có thể xử lý nhiều chương trình cùng một lúc.
  • Gồm các biểu tượng (icon). Mỗi biểu tượng đại diện cho một đối tượng (object) như thư mục hồ sơ, thư mục nghe nhạc...
  • Một trình tổng hợp của những trình ứng dụng; như trình thảo văn bản, trình đồ họa và các ứng dụng hữu ích như lịch, đồng hồ, máy tính, bản tính, phần mềm lướt mạng, soạn thảo văn bản, trò chơi.
  • Từ khi mới được tung ra thị trường, Windows đã được nhiều người dùng đón nhận, tạo ra một sự thành công mang tầm khủng khiếp cho Microsoft. Lý do chính mà Windows được nhiều người lựa chọn là có giao diện dễ sử dụng, bắt mắt với độ đồ họa cao. Vì được đông đảo người sử dụng nên các công ty phần cứng cũng như các công ty phần mềm đã cho ra đời rất nhiều sản phẩm tương thích với Windows như bàn phím, con chuột, USB, các chương trình lập trình, ứng dụng như phần mềm tăng tốc tải Internet Download Manager, Nero... Chính điều này đã làm cho Windows càng trở nên phổ biến hơn. Mặc dù Windows được nhiều người dùng, nhưng Windows không được các chuyên gia máy tính đánh giá cao bằng các hệ điều hành dựa trên môi trường Unix như Ubuntu do tốc độ làm việc của Windows chậm hơn nhiều lần so với Unix {cần chú thích} và các ứng dụng của Windows cũng không được đánh giá cao bằng các ứng dụng trong các hệ điều hành dựa trên Unix - ví dụ Latex luôn luôn có tốc độ làm việc cao hơn MS Word của Microsoft chạy trong Windows.{cần chú thích}

Giao diện[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nền, (Desktop) nền đặt các biểu tượng. Khi nhấp chuột lên một biểu tượng bất kỳ này, người dùng sẽ chạy được một ứng dụng mặc định gán cho biểu tượng ấy.
  • Nút khởi động, (Start Button) đi vào khởi động các chương trình mặc định (đi kèm với hệ điều hành) hoặc được cài đặt thêm vào sau này. Những thành phần chính của nút khởi hành là"
    1. Trình định cấu hình (Settings) chỉnh sửa các thay đổi của các thiết bị hoặc phần mềm được đặt vào máy.
      1. Bảng điều khiển (Control Panel) - chỉnh sửa các thông số định dạng của chuột, bàn phím, định dạng màu sắc hoặc nền màn hình, cài vào hoặc tháo gỡ các chương trình phần mềm
      2. Cài đặt mạng (Network Connection) thiết lập hệ thống mạng
      3. Máy in và fax (Printer and Fax) thiết lập cấu hình cho máy in và máy fax
    2. Chương trình (Programs) bao gồm những trình ứng dụng
    3. Văn bản (Documents) gồm các văn kiện người dùng đã lưu (hình ảnh, văn thơ, nhạc..)
    4. Thiết bị ổ đĩa (My Computer) nơi đi vào những ổ đĩa khác nhau.

Chức năng hỗ trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Windows hỗ trợ chức năng:

  1. Cài xong dùng liền (Plug & Play)
    Những phần cứng (hardware) mới cài vào máy có thể chạy ngay do máy tự động tìm trình điều khiển (driver) của phần cứng và cài đặt cấu hình cùng cách thức hoạt động của phần cứng.
  2. Kéo và thả (Drag & Drop)
    Bất cứ đối tượng của cửa sổ điều có thể dùng chuột để chọn và di chuyển đến một nơi khác dễ dàng

Đặt tên[sửa | sửa mã nguồn]

Tên các đối tượng như thư mục, hồ sơ... có thể dài hơn tên theo quy ước (8 ký tự tên-1 chấm-3 ký tự đuôi).

Thư mục chính[sửa | sửa mã nguồn]

|-Desktop                    Desktop
|-My Computer                My Computer
|--C:                        Ổ đĩa C
|--D:                        Ổ đĩa D
|--E:                        Ổ đĩa E (mặc định cho CD/DVD)
|--Control Panel               Control Panel
|--My Documents             My Documents
|---My Music
|---My Pictures
|---My Video
|-My Network Places
:C:\\Program Files
:C:\\Windows
:C:\\Windows\System32

Công cụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lịch
  • Đồng hồ

Soạn văn bản[sửa | sửa mã nguồn]

  • NotePad: trình soạn văn bản thường (text)

Người dùng Windows cũng có thể làm phụ đề cho phim (tập tin đuôi.srt), thêm các khóa registry (tập tin đuôi.reg), thiết kế website (tập tin đuôi.htm), tạo các tập tin batch (tập tin đuôi.bat) bằng NotePad

  • WordPad: trình soạn văn bản thường và siêu văn bản (hyper text)

Đồ họa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hoạ đồ Microsoft (Microsoft Paint): trình vẽ, chỉnh hình

Hộp thoại khởi động[sửa | sửa mã nguồn]

Dùng một dòng lệnh trong hộp thoại khởi động (Run) để thực thi một công việc

  1. Địa chỉ trang mạng. Thí dụ: http://www.yahoo.com
  2. Khởi động một trình. Trong hộp thoại của run gõ: calc để mở máy tính

Các hệ thống tập tin[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phối trí biểu tập tin 12 (gọi tắt theo tiếng Anh là FAT12), Phối trí biểu tập tin 16 (giản xưng: FAT16): Với hệ điều hành đĩa từ, hệ thống tập tin FAT (còn gọi là FAT16 để phân biệt với FAT32) được công bố vào năm 1981 đưa ra một cách thức mới về việc tổ chức và quản lý tập tin trên đĩa cứng, đĩa mềm. Tuy nhiên, khi dung lượng đĩa cứng ngày càng tăng nhanh, FAT16 đã bộc lộ nhiều hạn chế. Với không gian địa chỉ 16 bit, FAT16 chỉ hỗ trợ đến 65.536 liên cung (cluster) trên một phân vùng (partition), gây ra sự lãng phí dung lượng đáng kể (đến 50% dung lượng đối với những ổ đĩa cứng trên 2 GB).
  • FAT32: được giới thiệu trong phiên bản Windows 95 Service Pack 2 (OSR 2), được xem là phiên bản mở rộng của FAT16. Do sử dụng không gian địa chỉ 32 bit nên FAT32 hỗ trợ nhiều cluster trên một partition hơn, do vậy không gian đĩa cứng được tận dụng nhiều hơn. Ngoài ra với khả năng hỗ trợ kích thước của phân vùng từ 2 GB lên 2 TB và chiều dài tối đa của tên tập tin được mở rộng đến 255 ký tự đã làm cho FAT16 nhanh chóng bị lãng quên. Tuy nhiên, nhược điểm của FAT32 là tính bảo mật và khả năng chịu lỗi (fault tolerance) không cao.
  • Hệ thống tập tin kỹ thuật mới (New Technology File System - NTFS): được giới thiệu cùng với phiên bản Windows NT 3.1 (phiên bản này cũng hỗ trợ FAT32). Với không gian địa chỉ 64 bit, khả năng thay đổi kích thước của cluster độc lập với dung lượng đĩa cứng, NTFS hầu như đã loại trừ được những hạn chế về số cluster, kích thước tối đa của tập tin trên một phân vùng đĩa cứng, khả năng chịu lỗi cao, tính bảo mật tốt hơn FAT32.

Chương trình giả lập[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình giả lập cho phép người sử dụng chạy các chương trình ứng dụng của Windows mà không cần có Windows.

  • Wine – phần mềm mã nguồn mở có chức năng tương đương của các hàm Windows API, cho phép vài chương trình ứng dụng Windows chạy trên nền x86 Unix, bao gồm cả Linux.
  • Cedega (trước đây gọi là WineX) – là một nhánh của Wine thuộc sở hữu của TransGaming Technologies, được thiết kế chuyên để chạy các trò chơi viết cho Microsoft Windows trên Linux
  • MonoCLI chung mã nguồn – hệ thống tương đương với cơ sở Microsoft.NET.
  • ReactOS – hệ điều hành mã nguồn mở được phát triển với mục tiêu là tương thích với các chương trình và trình điều khiển thiết bị của Windows NT, mặc dù vậy hiện tại vẫn còn đang trong giai đoạn phôi thai.
  • FreedowsAlliance OS – một dự án có nhiều tham vọng, dự định là một bản sao của Windows và bổ sung thêm nhiều tính năng lợi ích nhưng đã thất bại.
  • Project David – một dự án đầy tham vọng và đã gây nhiều tranh cãi với mục đích là giả lập hoàn toàn để các chương trình Windows có thể chạy trên các hệ điều hành khác.
  • CrossOver Office của Codeweavers, cũng giả lập được hoàn toàn để các chương trình Windows có thể chạy trên các hệ điều hành khác.
  • Captive NTFS – một phần mềm gói, dạng nguồn mở có tính tương thích cao hơn cho hệ NTFS.
  • E/OS – với mục tiêu có thể chạy bất kì chương trình thuộc hệ điều hành nào mà không cần phải cài đặt thêm hệ điều hành đó.

Phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Windows 1.0

Các phiên bản của Windows là tên gọi chung cho các thế hệ của sản phẩm phần mềm Windows và có thể được chia thành các thể loại sau:

  • Môi trường làm việc 16 bit. Dùng trong những máy vi tính cá nhân (personal computer).
    • Các phiên bản đầu tiên của Windows chỉ là giao diện đồ họa hay desktop, phần lớn vì chúng dùng hệ điều hành MS-DOS ở lớp dưới cho các dịch vụ hệ thống tập tin và các tiến trình hệ thống.
    • Sau đó, các phiên bản Windows 16 bit đã có dạng tập tin có thể chạy được và tự cung cấp chương trình điều khiển thiết bị (device driver) (cho bo mạch đồ họa, máy in, chuột, bàn phím và âm thanh).
    • Khác với DOS, môi trường của Windows cho phép mọi người dùng thi hành nhiều chương trình đồ họa cùng một lúc. Hơn nữa, chúng đã thực thi một phối hợp bộ nhớ ảo theo đoạn (segment) trong phần mềm cho phép GUI thi hành các chương trình lớn hơn bộ nhớ: các đoạn mã nguồn và nguồn lực được đem vào và bị loại bỏ khi không còn giá trị nữa hay khi số lượng còn lại trong bộ nhớ bị thấp và các đoạn dữ liệu được đưa vào bộ nhớ khi một chương trình nào đó trả quyền điều khiển cho bộ xử lý. Các hệ điều hành này gồm có Windows 1.0, (1985), Windows 2.0 (1987) và Windows/286 (gần giống Windows 2.0).
  • Môi trường làm việc 16/32 bit. Dùng trong các máy vi tính hệ Intel Pentium 386 - 486 - 586.
    • Windows/386 ra mắt hạt nhân hoạt động trong chế độ bảo vệ và một trình theo dõi máy ảo. Trong một phiên làm việc của Windows, nó cung cấp các it provided a device virtualization cho bộ điều khiển đĩa, bo mạch đồ họa, bàn phím, chuột, bộ định thời và bộ điều khiển ngắt. Kết quả rõ nhất mà người sử dụng nhìn thấy là họ có thể làm việc tạm thời với nhiều môi trường MS-DOS trong các cửa sổ riêng (các ứng dụng đồ họa yêu cầu cửa sổ phải được chuyển về chế độ toàn màn hình).
    • Các ứng dụng của Windows vẫn thuộc loại "đa nhiệm cộng tác" trong môi trường chế độ thực. Windows 3.0 (1990) và Windows 3.1 (1992) đã hoàn thiện thiết kế này, đặc biệt là tính năng bộ nhớ ảo và trình điều khiển thiết bị ảo (VxDs) cho phép họ chia sẻ các thiết bị dùng chung (như đĩa cứng, đĩa mềm...) giữa các cửa sổ DOS.
    • Quan trọng nhất là các ứng dụng Windows có thể chạy trong chế độ bảo vệ 16-bit (16-bit protected mode) (trong khi Windows đang chạy trong chế độ chuẩn hay chế độ 386 nâng cao), cho phép người sử dụng truy cập đến một vài megabyte bộ nhớ mà không phải tham gia vào quá trình quản lý bộ nhớ ảo. Các chương trình này vẫn chạy trong cùng một không gian địa chỉ, trong đó bộ nhớ đã được phân đoạn để chia thành các mức bảo vệ riêng, và vẫn hoạt động "đa nhiệm cộng tác".
    • Trong phiên bản Windows 3.0, Microsoft đã chuyển các tác vụ quan trọng từ C sang assembly, làm cho phiên bản này chạy nhanh hơn và ít tốn bộ nhớ hơn các phiên bản trước đó.
  • Hệ điều hành 16/32 bit. Bằng việc công bố khả năng truy cập file 32-bit trong Windows for Workgroups 3.11, Windows cuối cùng đã chấm dứt phụ thuộc vào DOS trong việc quản lý hồ sơ (file). Ngoài ra, Windows 95 cũng đưa ra hệ thống "Tên file dài", do vậy hệ thống tên file 8.3 của DOS chỉ còn vai trò trong đoạn mã khởi động nạp hệ điều hành.
    • Đặc điểm mang tính cách mạng nhất trong phiên bản này là khả năng chạy các chương trình giao diện đồ họa 32-bit đồng thời, trong khi các chương trình này lại chia thành các phân tuyến (thread) chạy song song với nhau.
    • Microsoft đã đưa ra 3 phiên bản của Windows 95 (phiên bản đầu tiên năm 1995, các phiên bản sửa lỗi được đưa ra năm 1996 và 1997 chỉ được bán cho nhà sản xuất máy tính, được bổ sung thêm một vài tính năng mới như hỗ trợ FAT32).
    • Hệ điều hành tiếp theo của Microsoft là Windows 98; có 2 phiên bản (bản đầu tiên năm 1998, và bản thứ hai là "Windows 98 Second Edition", năm 1999). Trong năm 2000, Microsoft đưa ra Windows Me, với mục tiêu cố gắng thu hẹp khoảng cách giữa Windows 98 SE và Windows NT, bao gồm một vài tính năng mới như hoàn nguyên hệ thống (System Restore), cho phép người sử dụng đưa máy tính của mình trở lại trạng thái trước đó. Dù vậy, đó vẫn không phải là một tính năng được chấp nhận rộng rãi vì đã có nhiều người sử dụng gặp phải vấn đề. ME được coi là sự thay thế tạm thời trong việc hợp nhất hai dòng sản phẩm này. Microsoft đã đợi một khoảng thời gian ngắn để Windows Millennium trở nên phổ biến trước khi công bố phiên bản Windows tiếp theo - Windows XP.
  • Hệ điều hành 32 bit ban đầu được thiết kế và quảng bá là các hệ thống có độ tin cậy cao và đặc biệt là không thừa kế từ DOS.
    • Phiên bản đầu tiên được đưa ra là Windows NT 3.1 vào năm 1993, được đánh số "3.1" để chỉ thị ngang hàng với Windows 3.1 và hơn 1 cấp so với hệ điều hành OS/2 2.1, hệ điều hành của IBM do Microsoft đồng phát triển và là đối thủ chính của dòng Windows NT tại thời điểm đó.
    • Phiên bản tiếp theo là Windows NT 3.5 (1994), NT 3.51 (1995), và cuối cùng NT 4.0 (1996) đã có giao diện của Windows 95.
    • Sau đó Microsoft bắt đầu chuyển sang việc hợp nhất hai dòng hệ điều hành dành cho cá nhân và cho doanh nghiệp. Thử nghiệm đầu tiên, Windows 2000, đã thất bại, và được phân phối là một phiên bản dành cho doanh nghiệp. Phiên bản Windows 2000 cho cá nhân, tên mã là "Windows Neptune" bị hủy bỏ và Microsoft đã thay thế bằng Windows ME. Mặc dù vậy, "Neptune" vẫn được tích hợp vào dự án mới, "Whistler", để sau đó trở thành Windows XP.
    • Sau đó, hệ điều hành mới, Windows Server 2003, đã mở rộng dòng sản phẩm cho doanh nghiệp này. Cuối cùng, hệ điều hành đã được ra mắt Windows Vista sẽ hoàn thiện các tính năng còn thiếu của các sản phẩm trên. Với Windows CE, Microsoft cũng đã ngắm tới thị trường di động và các thiết bị cầm tay, cũng là một hệ điều hành 32-bit.
  • Hệ điều hành 64 bit, một loại hệ điều hành mới nhất, được thiết kế cho kiến trúc AMD64 của AMD, IA-64 của Intel, và EM64T (Intel® Extended Memory 64 Technology).
    • Dòng sản phẩm Windows 64-bit bao gồm "Windows XP Itanium", "Windows Professional x64 Edition" và "Windows Server 2003". "Windows XP Professional" và "Windows Server 2003 x64 Edition" được ra mắt vào 25 tháng 4 năm 2005. Windows XP Itanium đã được đưa ra trước đó, năm 2002.
    • Một số dấu hiệu cho thấy Windows Vista, được coi là sự kế vị của Windows XP, sẽ có cả hai phiên bản 32-bit và 64-bit.
      • Vào ngày 21 tháng 10 Windows 7 ra mắt như là sự thay thế cho Windows Vista và Windows Xp.Windows 7 mang cả vẻ đẹp của Windows Vista và cả sức mạnh của Windows Xp. Windows 7 hỗ trợ cảm ứng chạm đa điểm, nhiều hiệu ứng gương hơn (Aero), nó sẽ là phao cứu sinh của Microsoft sau thất bại ở Windows Vista.
  • Hệ điều hành 128 bit, theo tin tức thân cận của Microsoft, Windows 8 sẽ hỗ trợ kiến trúc 128 bit, nhưng phía Microsoft chưa có lời phản hồi nào cả. Dự án thực hiện Windows 8 sẽ bắt đầu sau vài tháng khi Windows 7 ra mắt.

Các phiên bản tạm thời[sửa | sửa mã nguồn]

Windows 8.1Windows Server 2012 là các phiên bản Windows hiện hành. Windows 8 (8.1) được thiết kế dành cho các máy tính để bàn và laptop, còn Windows Server 2012 lại dành cho các máy chủ và bao gồm các dòng sản phẩm: Phiên bản Web (Web Edition), Phiên bản chuẩn (Standard Edition), Phiên bản xí nghiệp (Enterprise Edition) và Phiên bản Trung tâm dữ liệu (Datacenter Edition). Phiên bản Web được thiết kế với các tính năng tập trung dành cho lưu trữ web (web hosting), trong khi đó phiên bản Trung tâm dữ liệu có một cơ sở hạ tầng cực kỳ vững mạnh cho việc lưu trữ dung lượng cực lớn. Hai phiên bản còn lại là Phiên bản chuẩn và Phiên bản xí nghiệp là trung gian giữa hai phiên bản nêu trên.

Các phiên bản hiện hành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Windows CE cho các hệ thống trong thiết bị, như trong các sản phẩm dân dụng (lưu ý: CE là một hệ điều hành khác với DOS và Windows NT/2000/XP, và Microsoft đã công bố mã nguồn)
  • Windows Mobile cho điện thoại thông minh và PDA (một phiên bản của Windows CE)
    • Portable Media Center cho các máy Portable Media Player
  • Windows XP cho máy tính cá nhân và máy tính xách tay
    • Windows XP Starter Edition, cho những người sử dụng máy tính mới ở các nước đang phát triển
    • Windows XP Home Edition, cho máy tính tại nhà
    • Windows XP Home Edition N, như trên, nhưng không có Windows Media Player theo quyết định của EU
    • Windows XP Professional Edition, cho doanh nghiệp và những người dùng giỏi
    • Windows XP Professional Edition N, như trên, nhưng không có Windows Media Player theo quyết định của EU
    • Windows XP Professional x64 Edition, cho các máy tính có bộ xử lý 64-bit (dựa trên Windows Server 2003)
    • Windows XP Tablet PC Edition, cho máy tính xách tay, có bút viết và màn hình cảm ứng
    • Windows XP Media Center Edition cho máy để bàn và máy xách tay, tập trung vào chức năng giải trí đa phương tiện
  • Windows Server 2003 cho máy chủ
    • Small Business Server cho máy chủ đầu tiên (2 bộ xử lý)
    • Web Edition cho chủ web cơ bản (2 bộ xử lý)
    • Standard Edition cho các chương trình phục vụ nhỏ không cần tụ nhóm (4 bộ xử lý)
    • Enterprise Edition cho các chương trình phục vụ lớn hơn, cho phép tụ nhóm (clustering) (8 bộ xử lý)
    • Datacenter Edition cho máy chủ mainframe (128 bộ xử lý)
    • Storage Server cho các thiết bị lưu trữ được kết nối mạng
  • Windows XP Embedded cho các hệ thống thiết bị nhúng
  • Windows Vista (tên mã là Longhorn) phát hành tháng 1/2000 Starter Editon: Dành cho máy tính cấu hình thấp.

Home Basic: Sử dụng những chức năng cơ bản như duyệt web, nghe nhạc và xem phim

Home Premium: Phiên bản đầy đủ tại nhà, laptop, cung cấp nhiều chức năng cho giải trí, công việc tại nhà

Business: Phù hợp với kinh doanh nhỏ

Enterprise: Phù hợp với kinh doanh lớn

Ultimate: Cung cấp tất cả chức năng của Vista.

  • Windows 7 (tên mã là Vienna) đã được phát hành vào ngày 22/10/2009.
    • Windows 7 Starter đơn giản, không cầu kì, thích hợp cho netbook.
    • Windows 7 Basic thích hợp với các loại netbook, máy tính cá nhân.
    • Windows 7 Home Premium khá tốt, thích hợp với các máy netbook thế hệ mới, máy tính cá nhân (PC), máy tính xách tay (Laptop).
    • Windows 7 Professional đầy đủ, hướng tới các công ty lớn, các doanh nhân.
    • Windows 7 Ultimate và Enterprise tập hợp đầy đủ các chức năng của tất cả các phiên bản kia cộng lại. Enterprise mang đến giải pháp về giá và hỗ trợ toàn diện hơn Ultimate. Ultimate là phiên bản thương mại toàn cầu, còn Enterprise không được bán lẻ mà chỉ dành cho các tổ chức đặt mua với số lượng lớn.
    • Thin PC dành cho máy có cấu hình thấp.
    • Windows 8 (tên bản mã là Blue) Ra mắt ngày 21/10/2012. Huỷ bỏ thanh Start, thay thế bằng giao diện Start Screen tiện dụng và linh hoạt, phiên bản đầu tiên được sử dụng trên các dòng máy tính hỗ trợ cảm ứng.
    • Windows NT Linh hoạt như Windows 8. Tuy nhiên, phiên bản này chỉ được cài theo sẵn trong các dòng máy tính bản.

Các phiên bản cũ[sửa | sửa mã nguồn]

Các phiên bản đã hủy[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1996, 3 tháng 5 - Windows Nashville (windows 96) (Sau này trở thành 95B.)
  • 1997-1998 - Cairo (một "hệ điều hành hướng đối tượng thực sự"), định ra mắt sau Windows NT; tương đối giống với DesktopX nhưng ở cấp độ thấp hơn và sau này trở thành Windows NT 4.
  • 1999, tháng 12- Windows Neptune được ra mắt cho mọi người thử nghiệm, tuy nhiên cuối cùng vẫn không được công bố, phiên bản này đáng lẽ ra là phiên bản Windows 2000 cho người dùng tại nhà.

Các phiên bản trong hiện tại và tương lai[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thủ Thuật Windows, tổng hợp mẹo vặt dùng trong Windows

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]