In ấn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Máy gấp của máy in offset tờ báo

In ấn hay ấn loát là quá trình tạo ra chữtranh ảnh trên các chất liệu nền như giấy, bìa các tông, ni lông, vải... bằng một chất liệu khác gọi là mực in. In ấn thường được thực hiện với số lượng lớn ở quy mô công nghiệp và là một phần quan trọng trong ngành xuất bản.

Hình thức sớm nhất của in ấn là in bằng âm bản khắc gỗ, với các nghiên cứu hiện tại thì in ấn đã xuất hiện ở Trung Quốc có niên đại từ trước năm 220 trước Công nguyên[1]Ai Cập vào thế kỷ IV. Phát triển sau này trong in ấn được lan rộng, đầu tiên được phát triển ở Trung Quốc[2], đặc biệt trở thành một công cụ hiệu quả hơn cho các ngôn ngữ phương Tây với bảng chữ cái hạn chế của họ, được phát triển bởi Johannes Gutenberg vào thế kỷ XV[3].

Lịch sử ngành in thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử ngành in Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Kỹ thuật in ấn hiện đại[sửa | sửa mã nguồn]

Sách báo ngày nay thường được in bằng kĩ thuật in ốp sét - offset. Các kĩ thuật in phổ biến khác gồm in nổi (dùng chủ yếu trong các cuốn ca ta lốc), in lụa, in quay, in phunin la de. Nhà in thương mại và công nghiệp lớn nhất trên thế giới là Montréal, ở Quebec, Quebecor World.[cần dẫn nguồn]

In kĩ thuật số phần lớn sử dụng hiện tượng tĩnh điện để chuyển đặt mực in lên trên chất nền. Công nghệ này phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây với các sản phẩm đa dạng từ các máy sao chép (copier) màu hay đen trắng cho tới các máy in màu hiện đại như Xerox iGen3, Kodak Nexpress, hay loạt máy HP Indigo. iGen3 và Nexpress sử dụng trống mực còn Indigo dùng mực lỏng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Shelagh Vainker in Anne Farrer (ed), "Caves of the Thousand Buddhas"(tiếng Anh), 1990, nhà xuất bản Bảo tàng Anh quốc. ISBN 0-7141-1447-2
  2. ^ “Great Chinese Inventions”. Minnesota-china.com. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2010. 
  3. ^ Rees, Fran. Johannes Gutenberg: Inventor of the Printing Press, (tiếng Anh)

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]