Gấu ngựa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
gấu ngựa
Ursus thibetanus 3 (Wroclaw zoo).JPG
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Ursidae
Chi (genus) Ursus
Loài (species) U. thibetanus
Danh pháp hai phần
Ursus thibetanus
(G. Cuvier, 1823)
Khu vực sinh sống của gấu ngựa(nâu – đang sinh sống, đen – tuyệt chủng, xám đen – không rõ sự có mặt)
Khu vực sinh sống của gấu ngựa
(nâu – đang sinh sống, đen – tuyệt chủng, xám đen – không rõ sự có mặt)
Danh pháp đồng nghĩa
  • Selenarctos thibetanus

Gấu ngựa (Ursus thibetanus hay Ursus tibetanus), còn được biết đến với tên gọi Gấu đen Tây Tạng, Gấu đen Himalaya, hay gấu đen châu Á, là loài gấu kích thước trung bình, vuốt sắc, màu đen với hình chữ "V" đặc trưng màu trắng hay kem trên ngực. Loài gấu này có quan hệ họ hàng rất gần với gấu đen Mỹ, người ta tin rằng chúng có chung nguồn gốc tổ tiên ở châu Âu.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Gấu ngựa có khu vực sinh sống trải rộng từ đông sang tây châu Á. Chúng có thể tìm thấy trong các cánh rừng của những khu vực đồi núi ở Đông ÁNam Á, bao gồm Afghanistan, Pakistan, bắc Ấn Độ, Nepal, Sikkim, Bhutan, Myanma, đông bắc Trung Quốc, Đài Loan hay Nhật Bản. Chúng có thể sống trong những khu vực lên tới cao độ 3.000 m (9.900 ft), cũng như ở những vùng đất thấp. Ở một vài khu vực, chúng chia sẻ nơi sinh sống với gấu nâu (Ursus arctos) là loài to hơn và khỏe hơn. Tuy nhiên, gấu ngựa có ưu thế trước kẻ cạnh tranh: khả năng leo trèo giỏi của nó giúp nó lấy được hoa quả và các loại hạt trên cây. Nó cũng chia sẻ nơi sinh sống với gấu trúc Trung Quốc, ví dụ ở khu bảo tồn Ngọa Long, Trung Quốc, là nơi chúng sống rất ít. Nòi gấu ngựa tìm thấy ở Đài Loan là nòi gấu đen Đài Loan.

Cá điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Gấu ngựa dài khoảng 1,30 - 1,90 m. Con đực cân nặng khoảng 110 – 150 kg và con cái là khoảng 65 – 90 kg. Tuổi thọ khoảng 25 năm. Gấu ngựa là loài ăn tạp, chúng ăn các loại thức ăn như hoa quả, quả mọng, cỏ, hạt, quả hạch, động vật thân mềm, mật ong và thịt (cá, chim, động vật gặm nhấm cũng như các động vật có vú nhỏ hay xác súc vật). Gấu ngựa là loài ăn thịt nhiều hơn anh em của nó là gấu đen Mỹ; tuy nhiên thịt chỉ là một phần nhỏ trong khẩu phần của chúng.

Gấu ngựa còn được biết đến như là những con thú rất hung hăng đối với con người (hơn nhiều so với gấu đen Mỹ); có rất nhiều ghi chép về các cuộc tấn công gây thương vong của gấu ngựa. Điều này có lẽ chủ yếu là do gấu ngựa sống gần với con người và tấn công khi nó bị giật mình.

Gấu ngựa được đưa vào danh sách trong sách đỏ của IUCN (Hiệp hội bảo tồn thế giới) như là loài dễ bị thương tổn trong số các động vật đang bị đe dọa. Chúng bị đe dọa chủ yếu là do phá rừng và mất chỗ sinh sống. Gấu ngựa cũng bị giết bởi nông dân vì mối đe dọa của chúng đối với gia súc, gia cầm và chúng cũng không được yêu thích do tập tính hay bóc vỏ cây của chúng làm giảm giá trị của cây trồng. Một vấn đề khác mà gấu ngựa phải đối mặt là chúng thông thường hay bị săn để lấy mật, là chất được sử dụng trong y học Trung Hoa. Do Trung Quốc cấm việc săn bắt gấu ngựa từ những năm 1980, mật gấu được cung cấp tới tay người tiêu dùng bởi các trại nuôi gấu đặc biệt, ở đó gấu bị nuôi nhốt trong chuồng và mật gấu bị rút theo định kỳ bằng cách hút mật theo các ống kim tiêm sau khi gấu bị gây mê. Những người ủng hộ cho việc này cho rằng nếu không có các trang trại như vậy thì do nhu cầu về mật gấu là cao nên việc săn bắn trộm sẽ gia tăng và càng làm cho loài gấu vốn đã gặp nguy hiểm lại càng thêm nguy hiểm trong họa diệt chủng. Những người phê phán thì cho rằng việc này là độc ác và vô nhân đạo, hay mật gấu tổng hợp (axít ursodeoxycholic), cũng có hiệu quả y học như mật gấu thật và trên thực tế là rẻ tiền hơn nhiều.

Săn bắt[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày nay, gấu ngựa chỉ được săn bắt hợp pháp ở Nhật Bản và Nga.[1] Ở Nga, 75–100 con được săn bắt hàng năm, tuy nhiên con số không chính thức là 500 mỗi năm.[1] Môn thể thao săn gấu ngựa của người Nga được hợp pháp hóa năm 2004. Theo một bài viết năm 2008 đăng trên The Sun, Câu lạc bộ săn bắt slavơ của Nga cung cấp dịch vụ chuyến đi săn 4 ngày đảm bảo bắt được gấu với chi phí £16.000. Bài báo chỉ ra rằng khác hàng nhận được giấy phép săn gấu ngựa bao gồm những người từ Anh, Hoa Kỳ, Đức, Tây Ban Nha, Ba LanPhần Lan.[2]

Mật gấu[sửa | sửa mã nguồn]

Mật gấu còn gọi là hùng đởm, tên khoa học: Fel ursi, thuộc họ gấu (Ursidae).

  • Tác dụng: Tính vị, qui kinh, vị đắng. Tính hàn, vào 3 kinh: Tâm, canvị; thanh nhiệt, giải độc, sát trùng, đinh nhĩ, ác thương, chữa đau răng, viêm mắt, hoàng đản, lỵ, hồi hộp, chân tay co quắp, đau dạ dày, giúp tiêu hóa, sỏi mật, gãy xương. Đặc biệt mật gấu ngựa có tác dụng chữa bệnh xơ gan, do có chứa axit ursodeoxycholic (UDC) (20% trọng lượng), khác với mật gấu chó gần như không có UDC mà chỉ có axit chenodeoxycholic (CDC).

Theo các kết quả nghiên cứu gần đây nhất, mật gấu ngựa còn có tác dụng trong việc điều trị bệnh ung thư, do tác dụng vào các tế bào ung thư làm cho các loại thuốc chữa ung thư dễ ngấm vào khối u hơn. Các nòi gấu ngựa:

  • Ursus thibetanus formosanus - ở Đài Loan
  • Ursus thibetanus gedrosianus - ở Iran và Pakistan
  • Urus thibetanus japonica - ở Nhật Bản
  • Ursus thibetanus laniger - ở Afghanistan và nam Trung Quốc
  • Ursus thibetanus mupinensis - ở tây nam Trung Quốc
  • Ursus thibetanus thibetanus - ở Himalaya và Đông Dương
  • Ursus thibetanus ussuricu - ở đông bắc Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Garshelis, D.L. & Steinmetz, R. (2008). Ursus thibetanus. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 27 January 2009. Listed as Vulnerable (VU A1cd v2.3)
  2. ^ Super-rich kill bears for 'sport'. Thesun.co.uk (2008-02-05). Retrieved on 2011-09-26.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]