Cầy móc cua

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Herpestes urva
Herpestes urva - Kunming Natural History Museum of Zoology - DSC02477.JPG
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammal
Bộ (ordo) Carnivora
Họ (familia) Herpestidae
Phân họ (subfamilia) Herpestinae
Chi (genus) Herpestes
Loài (species) H. urva
Danh pháp hai phần
Herpestes urva
Hodgson, 1836
Bản đồ phân bố (xanh – đang tồn tại, hồng – có thể đang tồn tại)
Bản đồ phân bố
(xanh – đang tồn tại, hồng – có thể đang tồn tại)

Herpestes urva (tên tiếng Anh: Cầy móc cua) là loài thú trong họ Cầy lỏn có mặt ở một số vùng của châu Á.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Cầy móc cua được tìm thấy ở vùng tây bắc Ấn Độ, Nepal, Myanma, Hoa NamĐông Nam Á, bao gồm Việt Nam, Malaysia, Đài Loan, LàoThái Lan.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Điểm nổi bật ở cầy móc cua là một vệt trắng kéo dài từ góc mép qua cổ đến bả vai. Đuôi của chúng xù lông và dài gần bằng nửa thân. Chiều dài đầu - thân của cầy móc cua là từ 440 đến 480 mm và chiều dài đuôi là từ 265 đến 310 mm. Cầy móc cua có bộ lông màu nâu xám. Phần cổ có màu đen kết hợp với phần ngực màu nâu đỏ và bụng màu nâu nhạt. Chân của chúng có màu nâu sẫm hoặc đen.[2]

Sinh thái và tập tính[sửa | sửa mã nguồn]

Cầy móc cua có một đời sống và kiếm ăn đơn độc, chỉ khi vào mùa động dục và giai đoạn nuôi con thì chúng mới sống thành đàn. Môi trường sinh sống của chúng là dọc theo các con suối, rừng khộp và rừng gỗ tạp. Cầy móc cua không chỉ ăn cua mà là loài ăn tạp: , ốc, ếch nhái, các loài gặm nhấm, chim, bò sát, và sâu bọ. Chúng hoạt động về đêm, bơi và lặn giỏi.[2]

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên iucn
  2. ^ a ă “Cầy móc cua”. Sinh vật rừng Việt Nam. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2013. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]