Cầy mực

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cầy mực
Binturong in Overloon.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum): Animalia
Ngành (phylum): Chordata
Lớp (class): Mammal
Bộ (ordo): Carnivora
Họ (familia): Viverridae
Phân họ (subfamilia): Paradoxurinae
Chi (genus): Arctictis
Temminck, 1824
Loài (species): A. binturong
Danh pháp hai phần
Arctictis binturong
(Raffles, 1821)
Bản đồ phân bố
Bản đồ phân bố

Cầy mực hay chồn mực[2] (tiếng Mường: tu dân, tiếng Thái: hên mi, tiếng Nùng: hên moòng, tiếng Dao: điền chiến, danh pháp hai phần: Arctictis binturong) là loài động vật ăn thịt thuộc họ Cầy (Viverridae).[3] Môi trường sống của chúng là các khu rừng mưaBangladesh, Bhutan, Myanma, Campuchia, Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, Lào, Malaysia, Nepal, Philippines, Sri Lanka, Thái LanViệt Nam.[4]

Cầy mực là loài thú ăn đêm và ngủ trên các cành cây. Chúng ăn trái cây là chính, ngoài ra còn ăn trứng động vật, mầm cây, lá cây và các loại động vật nhỏ như các loài gặm nhấm hoặc chim. Nạn phá rừng đã làm giảm đáng kể số lượng cầy mực. Cầy mực có thể đạt tuổi thọ trên 20 năm, con cầy mực có tuổi thọ kỉ lục là 26 năm[cần dẫn nguồn].

Mục lục

Đặc điểm [sửa]

Kích thước của cầy mực có thể rất khác nhau tùy theo mỗi con Cầy mực. Chiều dài thân từ 795 - 860mm, đuôi có thể dài từ 400 - 714mm, độ dài bàn chân từ 90 - 140mm, trọng lượng thân thể từ 10 – 20 kg. Đa số Cầy mực có bộ lông màu đen nhưng một số có bộ lông phớt trắng hoa râm hoặc xám trắng. Chân ngắn và khoẻ có vuốt ngắn dài nhọn thích hợp cho lèo trèo. Thức ăn chủ yếu bao gồm các loạI quả chín, chim thú nhỏ, trứng chimcôn trùng. Có khả năng sinh sản hầu như quanh năm. Khoảng thời gian có thai kéo dài chừng 92 ngảy. Mỗi lần có thể đẻ từ 1 tới 3 con. Nó thường sống ở trong những rừng già hoang vắng và làm tỏ trong thân cây. Săn mồi chủ yếu vào ban đêm. Do bị săn bắn nhiều để da lông và tuyến xạ nên động vật này được xếp hàng nguy hiểm ở Việt Nam và hiện nhà nước đã ra lệnh cấm săn bắn.[3]

Phân bố [sửa]

Cầy mực phân bố rải rác ở Châu Á bao gồm Việt Nam như ở Lai Châu, Ninh Bình (Cúc Phương), Gia Lai, Kontum (Hà Nừng), Đắc Lắc, Đồng Nai (Mã đà, rừng cấm Cát Tiên). Còn những nước trên thế giới khác như Ấn Độ, Trung Quốc, Lào...[3]

Hộp sọ và bộ răng cầy mực theo minh họa trong Gervais' Histoire naturelle des mammifères

Sinh sản [sửa]

Chu kì động dục của cầy mực là 81 ngày và thời gian mang thai là 91 ngày.[5] Cầy mực là một trong khoảng 100 loài thú có khả năng điều chỉnh thời gian mang thai để phù hợp với các điều kiện môi trường. Số cầy non sinh ra trong mỗi lứa thường là hai nhưng cũng có thể đến sáu.

Tuổi thành thục sinh sản trung bình của cầy mực cái là 30,4 tháng và của cầy mực đực là 27,7 tháng. Khả năng sinh sản kéo dài đến 15 tuổi.[5]

Một con cầy mực non được nuôi nhốt ở Malaysia

The Orang Asli of Malaysia keep Binturong as pets.

Các phân loài [sửa]

Có sáu phân loài đã được công nhận (A. b. albifrons, A. b. binturong, A. b. kerkhoveni, A. b. memglaensis, A. b. penicillatus, và A. b. whitei).[4]

Chú thích [sửa]

  1. ^ Mustelid Specialist Group (2008). Arctictis binturong. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 2008-10-15.
  2. ^ Lê Vũ Khôi (2000). Danh lục các loài thú ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp. tr. tr.42. 
  3. ^ a b c “CẦY MỰC”. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2011. 
  4. ^ a b Wozencraft, W. C. (2005). “Order Carnivora”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 549. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  5. ^ a b Wemmer, Chris; James Murtaugh (tháng 5 năm 1981). “Copulatory Behavior and Reproduction in the Binturong, Arctictis binturong”. Journal of Mammalogy (American Society of Mammalogists) 62 (2): 342–352. 

Liên kết ngoài [sửa]