Sói bờm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sói bờm [1]
Maned Wolf 11, Beardsley Zoo, 2009-11-06.jpg
Một con sói bớm nuôi nhốt ở sở thú Beardsley
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Omnivore
Họ (familia) Canidae
Phân họ (subfamilia) Caninae
Chi (genus) Chrysocyon
C. E. H. Smith, 1839
Loài (species) C. brachyurus
Danh pháp hai phần
Chrysocyon brachyurus
(Illiger, 1815)
Phạm vi phân bố của sói bờm
Phạm vi phân bố của sói bờm
Danh pháp đồng nghĩa[3]
Canis brachyurus, C. campestris, C. isodactylus, C. jubatus, Vulpes cancrosa

Sói bờm (danh pháp hai phần: Chrysocyon brachyurus) là một loài động vật thuộc họ Chó. Đây là là canidae lớn nhất của Nam Mỹ, giống như một con cáo lớn với bộ lông màu hơi đỏ.

Loài động vật có vú được tìm thấy trong môi trường sống cởi mở và bán mở, đặc biệt là vùng đồng cỏ với bụi cây và cây phân tán, ở phía nam, miền trung tây và đông nam Brazil (Mato Grosso, Mato Grosso do Sul, Minas Gerais, Goiás, São Paulo, Federal District và gần đây Rio Grande do Sul), Paraguay, phía bắc Argentina, Bolivia phía đông và phía bắc của dãy núi Andes, và viễn đông nam Peru (Pampas del Heath). Nó là rất hiếm ở Uruguay, có thể đã bị tuyệt diệt. IUCN liệt kê nó vào nhóm loài như gần bị đe dọa, trong khi nó được coi là dễ bị tổn thương bởi chính phủ Brazil (IBAMA). Nó là loài duy nhất trong chi Chrysocyon. Tên của nó trong tiếng địa phương được gọi là aguará guazú (có nghĩa là "con cáo lớn" trong các ngôn ngữ Guarani), Lobo de crin, Lobo de los esteros hoặc Lobo colorado, và như Lobo-guará ở Brazil. Nó cũng được gọi là borochi ở Bolivia.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Sói bờm đã thường được mô tả như là một con cáo đỏ đi cà kheo do màu sắc và bề ngoài của nó tương tự, mặc dù nó là lớn hơn nhiều so với cáo đỏ và thuộc về một chi khác. Con trưởng thành cao 67 đến 107 cm (26 đến 42 in) tại vai, chiều dài tổng cộng 149 cm (59 in) và nặng 20 đến 34,09 kg (44 đến 75,2 lb).[4][5][6] Sói bờm là loài canidae hoang lớn nhất. Chân dài có lẽ là do sự thích nghi với các thảo nguyên nơi sinh sống bản địa của nó.[7] Bộ lông của sói bờm có thể là màu nâu đỏ đến màu da cam vàng ở hai bên với chân dài, màu đen và một bờm đen rõ ràng. Bộ lông được đánh dấu với một cụm màu trắng ở đầu của đuôi và một cái "yếm" màu trắng bên dưới cổ họng. Bờm dựng đứng, và thường được sử dụng để mở rộng nét mặt của nó khi bị đe dọa hoặc khi thể hiện sự hung hăng.

Chế độ dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Sói bờm chuyên ăn con mồi nhỏ và vừa, bao gồm cả động vật có vú nhỏ (thường là động vật gặm nhấm và thỏ rừng), chim, và thậm chí cả cá[8][9]. Một phần lớn của chế độ ăn uống của nó (trên 50%, theo một số nghiên cứu) vật chất thực vật, bao gồm mía, củ, và trái cây (đặc biệt là táo sói (thực phẩm giống như cà chua) (Solanum lycocarpum)[10]. Sói bờm nuôi nhốt theo truyền thống đã được cho ăn nhiều thịt và đã phát triển sỏi bàng quang. Chế độ ăn sở thú nay gồm trái cây và rau quả, cũng như thức ăn cho chó. Vì vậy, chúng là loài ăn tạp.

Hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wozencraft, W. C. (2005). “Order Carnivora”. Trong Wilson, D. E.; Reeder, D. M. Mammal Species of the World . Nhà in Đại học Johns Hopkins. tr. 532–628. ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  2. ^ Rodden, M., Rodrigues, F. & Bestelmeyer, S. (2008). Chrysocyon brachyurus. 2008 IUCN Red List of Threatened Species. IUCN 2008. Truy cập ngày 22 March 2009. Database entry includes justification for why this species is near threatened.
  3. ^ Osgood, Wilfred H. (November năm 1919). “Names of Some South American Mammals”. Journal of Mammalogy 1 (1): 35. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2011. 
  4. ^ Dietz, J. M. (1984). “Ecology and social organization of the maned wolf (Chrysocyon brachyurus)”. Smithsonian Contributions to Zoology 392: 1–51. 
  5. ^ [1] (2011).
  6. ^ Boitani, Luigi, Simon & Schuster's Guide to Mammals. Simon & Schuster/Touchstone Books (1984), ISBN 978-0-671-42805-1
  7. ^ Dietz, James (1984). Trong Macdonald, D. The Encyclopedia of Mammals. New York: Facts on File. tr. 31. ISBN 0-87196-871-1. 
  8. ^ Juarez, Keila Macfadem; Jader Marinho-Filho (November năm 2002). “Diet, habitat use, and home ranges of sympatric canids in central Brazil”. Journal of Mammalogy 83 (4): 925–934. doi:10.1644/1545-1542(2002)083<0925:DHUAHR>2.0.CO;2. 
  9. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên internatura
  10. ^ Motta-Junior, J. C., S. A. Talamon, J. A. Lombardi, AND K. Simokomaki (1996). “Diet of maned wolf, Chrysocyon brachyurus, in central Brazil”. Journal of Zoology (London) 240: 277–284. doi:10.1111/j.1469-7998.1996.tb05284.x. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]