Mắc ca

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mắc ca
Macadamia nuts on tree.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
Bộ (ordo) Proteales
Họ (familia) Proteaceae
Chi (genus) Macadamia
F.Muell.

Mắc ca hay mác ca là tên gọi từ cách phiên âm trong tiếng Việt của chi thực vật có danh pháp khoa học Macadamia, gồm nhiều cây thân gỗ có nguồn gốc từ Châu Đại Dương (Úc), thuộc họ Proteaceae.[1][2] Các loài trong chi này là bản địa của đông bắc New South Wales và trung-đông nam Queensland. Cây này là một loại có trái thương mại.[3] Ngôn ngữ của thổ dân bản địa Úc thường gọi cây này bằng các tên gọi như bauple, gyndl, jindilli,[3]. Trước đây chi này có nhiều loài,[2] nhưng kết quả nghiên cứu về gen và hình thái được công bố năm 2008 bởi Austin Mast và cộng sự đã tách chúng ra khỏi chi Macadamia, và chi này hiện còn 4 loài.[2]

Danh sách loài[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài đã tách ra để thành lập chi riêng:

Chi Lasjia P.H.Weston & A.R.Mast, thuộc chi Macadamia cho đến năm 2008
Chi Catalepidia P.H.Weston, thuộc chi Macadamia cho đến năm 1995
Chi Virotia L.A.S.Johnson & B.G.Briggs, thuộc chi Macadamia, sau đó được tách 2 lần vào các năm 1975 và 2008

Sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Fresh macadamia nut with shell cut in half.
Macadamia nut in its shell and a roasted nut
Nhân mắcca được phủ Chocolate

Hạt cây là một loại thực phẩm có giá trị. Chỉ 3 trong số các loài là Macadamia integrifolia, Macadamia ternifolia, và Macadamia tetraphylla là có giá trị thương mại. Chỉ 2 trong 3 loài này (Macadamia integrifoliaMacadamia tetraphylla) có thể ăn sống được. Các loài còn lại trong chi này có độc tính và/hoặc không thể ăn hạt như M. whelaniiM. ternifolia; độc tính của chúng là do có mặt chất cyanogenic glycosides. Các loại glycoside này có thể được loại bỏ bằng cách ủ lâu, đây là phương pháp được người thổ dân Úc áp dụng cho các loài này.

Hai loài ăn được đã bị lai tạp, và M. tetraphylla bị đe doạ trong tự nhiên do lý do này. Hạt của nó được những người châu Âu ở nam Brisbane mô tả năm 1828 bởi nhà thám hiểm và thực vật học Allan Cunningham. Một trong những địa điểm có cây mắc ca hoang được tìm thấy đầu tiên là Mount Bauple gần Maryborough ở đông nam Queensland, Australia. Nhân của quả là một trong số ít thực phẩm được sản xuất và xuất khẩu số lượng lớn.[4]

Các vườn cây mắcca thương mại đầu tiên được trồng vào đầu thập niên 1880 bở Rous Mill, 12 kilômét (7,5 mi) đông nam Lismore, New South Wales, là cây loài M. tetraphylla.[5] Bên cạnh sự phát triển công nghiệp cửa hàng nhỏ ở Úc vào cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, mắcca đã được trồng rộng rãi thương mại ở Hawaii từ thập niên 1920. Hạt mắcca được nhập khẩu đầu tiên vào Hawaii năm 1882 bởi William H. Purvis. Một nhà quản lý trẻ của công ty Pacific Sugar Mill ở Kukuihaele trên Big Island, đã trồng hạt nó cùng năm tại Kapulena.[6]

Mắc ca được sản xuất ở Hawaii đã trở nên nổi tiếng toàn cầu. Tuy nhiên, năm 2006, sản lượng mắc ca bắt đầu giảm ở Hawaii do giá thấp hơn từ các nhà sản xuất khác.[7]

Ngoài Hawaii và Australia (35.200 tấn năm 2013), mắcca cũng được sản xuất thương mại ở Nam Phi (37.000 tấn - 2013), Brazil, California, Costa Rica, Israel, Kenya, Bolivia, New Zealand, Colombia, GuatemalaMalawi. Australia không còn là nhà sản xuất thương mại lớn trên thế giới - tổng sản lượng năm 2013 vào khoảng 135.000 tấn nhân hạt trên toàn cầu. Cho đến nay, việc trồng macadamia thương mại ở Florida đã không thành công, vì cho năng suất thấp. Tuy nhiên, macadamia là một loại cây trồng trước nhà phổ biến ở Florida và người ta đang cố gắng chọn lọc gống để nâng cao năng suất.[8]

Giá trị dinh dưỡng[sửa | sửa mã nguồn]

Hạt mắc ca tươi, tính trên 100 gam
Giá trị dinh dưỡng 100 g (3,5 oz)
Năng lượng 3.080 kJ (740 kcal)
Chất béo 75.8 g
*Chất béo bão hòa: 12 g
*Chất béo chưa bão hòa: 59 g
*Chất béo chưa bão hòa đa: 1.5 g
Protein 7.9 g
Vitamin B6 0.275 mg (21%)
Vitamin C 1.2 mg (2%)
Vitamin E 0.54 mg (4%)
Tỷ lệ phần trăm theo lượng hấp thụ hàng ngày của người lớn.
Nguồn: Cơ sở dữ liệu USDA

So sánh với các loại hạt quả ăn được phổ biến khác như hạnh nhân hay đào lộn hột, Mắc-ca chứa nhiều chất béo nhưng ít protein[9]. Hạt mắc ca có hàm lượng chất béo chưa bão hòa đơn cao nhất trong số các loại hạt đã biết, chứa khoảng 22% axit béo omega-7axit palmitoleic[10], có các tác động sinh học tương tự như một chất béo chưa bão hòa đơn. Nó cũng chứa 9% protein, 9% cacbohydrat và 2% sơ dinh dưỡng, cũng như canxi, photpho, kali, natri, selen, sắt, thiamin, riboflavinniacin[11].

Mắc-ca có độc tính đối với chó. Việc nuốt phải hạt mắc ca có thể gây nhiễm độc mắc ca (macadamia toxicosis), được đánh dấu bằng các biểu hiện như suy yếu và tê liệt các chân sau tới mức không đứng vững, xảy ra trong vòng 12 giờ sau khi nuốt phải. Phụ thuộc vào số lượng nuốt vào và kích thước con chó, các triệu chứng có thể bao gồm run rẩy cơ, tổn thương khớp và tổn thương bụng nghiêm trọng. Với liều độc cao, việc sử dụng các loại thuốc giảm đau có thể là cần thiết để giảm đau cho tới khi các tác động độc hại giảm đi. Sự phục hồi hoàn toàn thường diễn ra trong vòng 24-48 giờ[12].

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

Chúng được nhân rộng tại một số vùng tại Trung Quốc, Thái Lan... Quả mắc ca hiện nay được ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp mỹ phẩm và thực phẩm chức năng, do đó nhu yếu về sản vật này ngày một cao.[cần dẫn nguồn]

Năm 1881 mắc ca được đưa tới trồng ở Hawaii vào, lúc đó chúng được sử dụng như một cây trồng rừng. Năm 1948, Trạm nghiên cứu nông nghiệp Hawaii đã đầu tư nghiên cứu về lĩnh vực giống và đã tạo ra các dòng có nhiều triển vọng làm tiền đề cho công nghiệp mắc ca hiện đại ở Hawaii như ngày nay. 

Tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Việt Nam, cây mắc ca được đưa về trồng khảo nghiệm từ những năm cuối thế kỉ XX [cần dẫn nguồn]. Cây mắc ca được cho là thích hợp với Tây Nguyên và Tây Bắc bộ của Việt Nam[cần dẫn nguồn]. Trong chiến lược phát triển kinh tế nông lâm nghiệp trong tương lai cây Mắc-ca sẽ là một trong những loài được quan tâm[cần dẫn nguồn].

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Macadamia%”. Australian Plant Name Index (APNI), Integrated Botanical Information System (IBIS) database (listing by % wildcard matching of all taxa relevant to Australia). Centre for Plant Biodiversity Research, Australian Government. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013. 
  2. ^ a ă â Mast, Austin R.; Willis, Crystal L.; Jones, Eric H.; Downs, Katherine M.; Weston, Peter H. (07- 2008). “A smaller Macadamia from a more vagile tribe: inference of phylogenetic relationships, divergence times, and diaspore evolution in Macadamia and relatives (tribe Macadamieae; Proteaceae)”. American Journal of Botany 95 (7): 843–870. doi:10.3732/ajb.0700006. ISSN 1537-2197. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ a ă The Bopple Nut
  4. ^ “Macadamia Health Benefits”. Australian Macadamia. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  5. ^ Macadamia Power Pty (1982). Macadamia Power in a Nutshell. Macadamia Power Pty Limited. tr. 13. ISBN 978-0-9592892-0-6. 
  6. ^ Schmitt, Robert. “Macadamia Nuts”. Hawaiian Historical Society. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  7. ^ “Hawaii Macadamia Nuts: Final Season Estimates”. Hawaii Department of Agriculture. 13 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 7 tháng 4 năm 2012. 
  8. ^ Boning, Charles (2006). Florida's Best Fruiting Plants: Native and Exotic Trees, Shrubs, and Vines. Sarasota, Florida: Pineapple Press, Inc. tr. 117. 
  9. ^ [1] USDA, search for "Nuts, raw"
  10. ^ (German)/(English) [2], Federal Research Centre for Nutrition and Food (Bundesforschungsanstalt für Ernährung und Lebensmittel (BfEL))
  11. ^ Macadamia nutrition
  12. ^ Christine Allen (10-2001). “Treacherous Treats – Macadamia Nuts”. Veterinary Technician. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2014. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]