Năm phụng vụ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
(danh sách)
Rộng rãi Thiên vănGregoryHồi giáoISO
Các kiểu lịch
Âm dươngDươngÂm

Hạn hẹp AssyriaArmeniaAtticaAztec (TonalpohualliXiuhpohualli) • BabylonBahá'íBengalBerberBikram SamwatPhậtCeltTrung QuốcAlexandriaAi CậpEthiopiaCalendrier RépublicainĐứcDo TháiHellenicHinduẤn ĐộIranIrelandNhật BảnJavaJucheJulius mớiTriều TiênLitvaMalayalamMaya (Tzolk'inHaab') • Dân quốcNanakshahiNepal SambatPawukonPentecontadRapa NuiLa MãRumiXô viếtTamilThái (ÂmDương) • Tây TạngMyanmaViệt NamXhosaZoroaster
Các kiểu lịch
RunTrung Mỹ (Đếm dàiVòng tròn)
Các biến thể Kitô
JuliusLịch các thánhLịch phụng vụ Chính thống giáo phương ĐôngNăm phụng vụ
Hiếm dùng DariusDiscordia
Thể hiện và ứng dụng Lịch vĩnh cửuLịch vạn niênLịch bànLịch treo tườngLịch kinh tế

Năm phụng vụ (hay còn gọi là Lịch Kitô giáo) là chu kỳ thời gian xác định bằng các mùa phụng vụ với những nghi thức và lễ hội đặc trưng của Kitô giáo, được tổ chức bám sát với diễn tiến nội dung trong Kinh Thánh. Năm phụng vụ có sự khác biệt giữa Kitô giáo Tây phương (Công giáo Rôma, Anh giáo, Giáo hội LutherKháng Cách) với Chính thống giáo Đông phương, song, diễn tiến và tính nhất quán là như nhau. Đối với các giáo hội Tây phương lẫn Đông phương, ngày tháng tổ chức các lễ hội nhỏ thay đổi từ năm này qua năm khác nhưng đều dựa vào sự thay đổi của Lễ Phục Sinh. Có thể nhận ra biểu hiện rõ nét nhất về các mùa lễ hội này bằng việc ăn chay, liên hoan, trang trí nhà thờ v.v.. ở Giáo hội Công giáo Rôma và Chính thống giáo Đông phương, tuy nhiên, cộng đồng Kháng Cách lại ít biểu hiện ra điều này.

Chu kỳ phụng vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm phụng vụ thực tế dựa vào chu kỳ thời gian của năm Dương lịch để chia thành các mùa phụng vụ mà từng mùa có tâm trạng, chiều kích thần học và những nghi thức khác nhau, được biểu hiện qua những đề tài thuyết giáo, các đoạn Kinh Thánh chọn lọc, màu lễ phục, kiểu trang trí nhà thờ… thậm chí có thể quan sát qua tâm trạng từng tín đồ. Trong các giáo hội có sử dụng năm phụng vụ, các đoạn Kinh Thánh được chọn lọc và phân chia để đọc theo ngày (đặc biệt là ngày Chủ nhật) gọi là Quy điển Thánh Kinh.

Lịch theo Kinh Thánh Do Thái[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch Kinh Thánh Do Thái dựa vào chu kỳ của trăng non (tháng) và quy luật này được tìm thấy trong các đoạn Kinh Thánh: "Thiên Chúa phán: Phải có những vầng sáng trên vòm trời để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm." (Sáng thế 1:14). "tháng này, các ngươi phải kể là tháng đứng đầu các tháng, tháng thứ nhất trong năm." (Xuất hành 12:2) "ngày anh em ra đi là một ngày trong tháng A-víp" (Xuất hành 13:4).

Lịch phụng vụ Kitô giáo Tây phương[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch phụng vụ của Kitô giáo Tây phương (hay còn gọi là Lịch Công giáo) hầu hết dựa vào chu trình phụng vụ của Giáo hội Công giáo Rôma (kể cả giáo hội Luther, Anh giáo và Tin Lành) trước khi có cuộc cải cách Kháng Cách. Nói chung, các mùa phụng vụ trong năm của Kitô giáo Tây phương là Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh, Mùa Thường Niên (trước đây gọi là Mùa Quanh năm), Mùa Chay, Mùa Phục Sinh và Mùa Thường Niên (tiếp theo).

Mùa Vọng[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa Vọng (tiếng Việt nghĩa là "sự trông chờ", "hy vọng"; tiếng Latinh: adventus nghĩa là "đến") là mùa đầu tiên của năm phụng vụ bao gồm khoảng thời gian phủ kín bốn Chủ nhật trước Lễ Giáng sinh (hơn một tháng) và kết thúc vào Đêm Giáng Sinh. Chủ đề chính của Mùa Vọng là sự chuẩn bị mừng ngày giáng sinh của của Chúa Giêsu năm xưa, tuy nhiên, học thuyết thánh kinh hiện đại cho rằng đây là sự chuẩn bị tâm linh nhằm hướng đến cuộc trở lại để phán xét thế gian của Chúa Giêsu trong tương lai. Bầu không khí của mùa này tuy không buồn bã như Mùa Chay nhưng được liệu sao để không đi trước niềm vui tột độ của Lễ Giáng Sinh sau đó. Bằng nhiều hình thức, có thể là bốn vòng hoa hay bốn ngọn nến, nhiều nơi sử dụng nó để đánh dấu thời gian cho bốn tuần của Mùa Vọng với ý nghĩa tượng trưng: "Hy vọng", "Tin tưởng", "Niềm vui" và "Tình yêu". Màu lễ phục truyền thống trong mùa này là màu tím nhưng vào Chủ nhật thứ ba, có thể sử dụng màu hồng và được gọi là "Chủ nhật Hồng" hoặc "Chủ nhật Tím".

Mùa Giáng Sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa Giáng sinh bắt đầu từ Lễ Giáng Sinh (ngày 25 tháng 12) đến hết ngày Lễ Hiển Linh hay Lễ Chúa Giêsu chịu Phép rửa (tùy giáo phái) với ý nghĩa mừng sự kiện Chúa Giêsu giáng trần năm xưa.

Mùa Thường niên[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa Thường niên là mùa phụng vụ không mang ý nghĩa thần học đặc biệt nào thông thương gồm 33 hoặc 34 tuần lễ (tùy năm) và được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn 1 bắt đầu từ Lễ Hiển Linh hay Lễ Chúa Giêsu chịu Phép rửa (tùy giáo phái) đến trước Thứ tư Lễ Tro. Giai đoạn 2 bắt đầu từ sau Lễ Ngũ Tuần cho đến hết năm phụng vụ đó (tức trước Chủ nhật thứ nhất Mùa Vọng của năm phụng vụ tiếp theo). Ngoài dịp Lễ Giáng Sinh và Lễ Phục Sinh là cao điểm của năm phụng vụ, các lễ quan trọng khác thường được bố trí vào Mùa Thường niên. Màu lễ phục thường là màu xanh lá, đỏ, tím, vàng.

Mùa Chay[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa Chay thực chất là mùa mà nhiều giáo hội Kitô giáo chuẩn bị cho Lễ Phục Sinh, bắt đầu vào Thứ tư Lễ Tro và kết thúc vào Thứ bảy Tuần Thánh (tròn 40 ngày). Cũng như Mùa Vọng, Kinh Vinh Danh và Allelujah nói chung không được hát trong mùa này. Mùa Chay với màu tím truyến thống mang bầu không khí trầm buồn thể hiện hai chiều kích thần học: sự ăn năn thống hối của từng tín đồ và Cuộc Khổ nạn của Chúa Kitô. Công giáo Rôma quy định không được phép hát Kinh Vinh Danh và "Alleluia" trong mùa này. Cao điểm của Mùa Chay là Tam nhật Thánh bao gồm:

  • Thứ năm Tuần Thánh (hay Thứ năm Rửa chân)
    • Buổi tối cử hành Thánh lễ Tiệc Ly
    • Các nhà thờ chính tòa cử hành Lễ Dầu.
    • Có thể có nghi thức rửa chân.
    • Theo thông lệ, sau Thánh lễ Tiệc Ly là nghi thức chiêm ngắm hoặc hôn tượng Chúa Giêsu cho đến nửa đêm.
  • Thứ sáu Tuần Thánh (hay Thứ sáu Tốt lành)
    • Nghi thức tưởng niệm Cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu.
    • Giáo hội Công giáo Rôma không cử hành thánh lễ vào ngày này nhưng khuyến khích việc cầu nguyện. Quy định các tín đồ giữ chay và kiêng thịt.
    • Các thánh tượng trong nhà thờ được bao trùm vải tím.
  • Thứ bảy Tuần Thánh
    • Kỷ niệm việc an táng Chúa Giêsu trong mồ.
    • Buổi tối tổ chức Lễ Vọng Phục Sinh với những nghi thức rất long trọng tiên liệu về sự sống lại của Chúa Giêsu mà nhiều người lầm tưởng đây là Lễ Phục Sinh.


Tuần Thánh trước Lễ Phục Sinh

Chúa nhật Lễ Lá | Thứ hai Tuần Thánh | Thứ ba Tuần Thánh | Thứ tư Tuần Thánh
Thứ năm Tuần Thánh | Thứ sáu Tuần Thánh | Thứ bảy Tuần Thánh

Trong Mùa Chay, có hai ngày mà tín đồ Công giáo Rôma phải ăn chay (thuật ngữ gọi là "giữ chay và kiêng thịt") đó là Thứ tư Lễ Tro và Thứ sáu Tuần Thánh. Luật ăn chay của Công giáo Rôma không giống như của Phật giáo. "Giữ chay" của họ được hiểu là cấm ăn uống các món phụ (bánh kẹo, rượu bia, nước ngọt…) còn "kiêng thịt" được hiểu là cấm ăn thịt các động vật có máu nóng như: thịt heo, thịt bò, thịt gà, thịt của các loài thú, gia cầm… nhưng lại cho phép ăn các loài hải sản như cá, tôm, mực… và thực vật. Thực ra ít thấy có quy định cụ thể nào về danh mục cấm ấy nhưng tất cả đều dựa vào truyền thống. Ngày "giữ chay và kiêng thịt" quy định chỉ được ăn duy nhất hai bữa chính, không có bữa ăn phụ, hạn chế các thú vui nhưng khuyến khích làm việc từ thiện với ý nghĩa thần học là luyện tập cho bản thân sức chịu đựng trước sự cám dỗ của vật chất.

Mùa Phục Sinh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Kitô giáo, Chủ nhật được coi là ngày quan trọng nhất của tuần lễ vì nó là "ngày của Chúa". Cho nên trong tiếng Việt, tín đồ Kitô giáo còn gọi Chủ nhật là Chúa Nhật. Phần sau đây sử dụng "Chúa nhật" thay vì "Chủ nhật" cho hợp với ngữ cảnh.

Mùa Phục Sinh bắt đầu từ Chúa nhật Phục Sinh đến hết Chúa nhật Chúa Thánh Thần Hiện xuống (Lễ Ngũ Tuần) đối với người Tin Lành và kéo dài hết tuần lễ sau đó đối với người Công giáo, thời gian thay đổi theo từng năm.

Ngày thứ 40 sau Lễ Phục Sinh là lễ Chúa Giêsu lên trời (tức Lễ Thăng Thiên, rơi vào ngày Thứ năm) nhưng thường được dời vào ngày Chúa nhật kế tiếp. Ngày thứ 50 sau ngày Lễ Phục Sinh là ngày Lễ Ngũ Tuần kỉ niệm Chúa Thánh Thần hiện xuống với các tông đồ theo Tân Ước, ngày này cũng được coi là ngày khai sinh ra Giáo hội.

Các lễ quan trọng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ Đức Mẹ Lên trời (hay Mông Triệu, dịch sát nghĩa là "rước về trời trong giấc mộng") của Công giáo Rôma diễn ra vào ngày 15 tháng 8 hằng năm. Đây là ngày lễ cổ xưa nhất của Công giáo còn tồn tại với ý nghĩa mừng sự kiện mà họ tin rằng Maria được Thiên Chúa đưa về trời cả linh hồnthể xác. Niềm tin này được Giáo hoàng Piô XII định chế thành ‘’tín điều’’ (Munificentissimus Deus) vào ngày 1 tháng 11 năm 1950. Anh giáo cũng như vài giáo phái Kháng Cách khác cũng kỉ niệm vào ngày này nhưng với ý nghĩa mừng Thánh Maria.

Chính thống giáo Đông phương[sửa | sửa mã nguồn]

Năm phụng vụ của tín đồ Chính thống giáo cũng tương tự như Công giáo Rôma nhưng nếu Công giáo ăn chay cao điểm vào Mùa Chay sau đó là lễ Phục Sinh thì Chính thống giáo có sự xen kẽ giữa ăn chay và lễ quanh năm. Tuy nhiên, năm phụng vụ của họ lại bắt đầu vào một ngày cố định là ngày 1 tháng 9 và quan trọng nhất là lễ Pascha (Lễ Phục Sinh của tín đồ Chính thống giáo). Về cơ bản, Chính thống giáo sử dụng Lịch Julian để tính toán năm phụng vụ của mình nhưng lại dùng Lịch Gregorian để tính xem những lễ lớn rơi vào ngày nào của Dương lịch. Từ năm 1900 cho đến năm 2100, có 13 ngày chênh lệch giữa hai loại lịch này. Ví dụ, những nước chính thức sử dụng Lịch Julian thì ngày Lễ Giáng Sinh của họ là ngày 7 tháng 1 theo Dương lịch. Chính thống giáo có bốn mùa ăn chay trong năm nhưng cũng giống Công giáo Rôma, họ ăn chay cao độ vào Mùa Chay, chuẩn bị cho Lễ Pascha. Nếu Mùa Vọng của Công giáo Rôma chỉ kéo dài hơn bốn tuần thì mùa này tương tự của Chính thống giáo kéo dài đúng 40 ngày. Ngoài ra, một bộ phận tín đồ Chính thống giáo còn ăn chay vào Thứ tư và Thứ sáu mỗi tuần.