Giáo hoàng Nicôla V

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giáo hoàng Nicôla V
Tên khai sinh Tomaso Parentucelli
Sinh 15 tháng 11, 1397(1397-11-15)
Sarzana, Cộng hòa Genoa
Mất 24 tháng 3, 1455 (57 tuổi)
Rôma, Lãnh thổ Giáo hoàng
Thứ tự
Tựu nhiệm 6 tháng 3 năm 1447
Bãi nhiệm 24 tháng 3 1455
Tiền nhiệm Êugêniô IV
Kế nhiệm Calixtô III
Huy hiệu
Các giáo hoàng khác lấy tông hiệu Nicholas


Nicôla V (Latinh: Nicolaus V) là vị Giáo hoàng thứ 207 của giáo hội công giáo. Theo niên giám tòa thánh năm 1806 thì ông đắc cử Giáo hoàng năm 1447 và ở ngôi Giáo hoàng trong 13 năm 19 ngày[1]. Niên giám tòa thánh năm 2003 xác định ông đắc cử Giáo hoàng ngày 6 tháng 3 năm 1447, ngày khai mạc chức vụ mục tử đoàn chiên chúa là ngày 19 tháng 3 và ngày kết thúc triều đại của ngài là ngày 24 tháng 3 năm 1455.

Giáo hoàng Nicolaus V sinh tại Sarzana ngày 15 tháng 11 năm 1397 với tên là Tommaso Parentucelli. Ông là nhà nhân bản học thứ nhất lên ngôi Giáo hoàng. Ông mở đầu cho một thời đại chính trị văn hóa mới trong giáo triều, trong đó ngôi Giáo hoàng đỡ đầu cho phong trào phục hưng văn nghệ kéo dài đến thời đức Leo X.

Nicolaus V tái lập hoà bình cho Pháp và Anh và giúp người Tây Ban Nha tiêu diệt quân Saracens. Ông cho phép vua Bồ đào nha khai chiến với các dân tộc Phi châu để cướp tài sản của họ và bắt họ làm tôi mọi. Ngày 19.3.1452,ông đặt vương miện cho hoàng đế Friedrich III (1440-1493), đó là vị Giáo hoàng cuối cùng được Roma phong vương.

Công đồng ly khai Paris[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17.2.1448, Nicolaus V đã ký thỏa hiệp với hoàng đế Friedrich II (1439-1493). Sau thỏa hiệp này, công đồng ly khai ở Paris bị trục xuất khỏi Paris, di chuyển sang thành Lausanne, nơi Felix V lập "Giáo triều".

Nhưng Felix V tù chức ngày 7.4.1449. Ít ngày sau, các hồng y "bầu" đức hồng y Tommaso Parentucelli "hiệu Nicolaus V" làm Giáo hoàng và sau đó giản tán. Ông đã cho Felix V làm hồng y. Từ đó chấm dứt khủng hoảng nội bộ của Giáo hội kéo dài một thế kỷ rưỡi.

Giáo hoàng phục hưng[sửa | sửa mã nguồn]

Sau việc chấm dứt công đồng ly khai thành Paris (1449), đức Nicolaus V hầu như chỉ quan tâm đến việc sửa sang thành Roma, trùng tu các thánh đường và xây cất thêm.

Ông bắt đầu xây dựng Đền thờ Thánh Phêrô hiện giờ. Là ngườ ham say sưu tầm các cáo bản đồng thời đưa 2 thư viện Lateran về Vatican, và trở thành người sáng lập thư viện Vatican.

Năm thánh 1450[sửa | sửa mã nguồn]

Nicolaus V cử hành Năm Thánh thứ 6 (1450). Nếu theo qui định của Urbanô VI, năm Thánh mới phải được tổ chức vào năm 1433 (cứ mỗi 33 năm để tưởng nhớ việc Chúa Giêsu sống trên trần gian trong 33 năm), nhưng điều này đã không thực hiện. Ðược mở ra dưới triều Nicôla V. Năm Thánh 1450 được ghi nhận là một trong những Năm Thánh có nhiều người tham dự nhất trong lịch sử.

Do số khách hành hương quá đông, đã xảy ra những vụ rối loạn trật tự công cộng và thiếu thốn vấn đề vệ sinh. Năm Thánh này còn được gọi là "Năm Thánh của những vị thánh" bởi vì trong số khách hành hương đến Rôma có những vị thánh tương lai như Thánh nữ Rita Cascia và Thánh Antôn thành Florence. Thánh Antôn thành Florence mô tả Năm Thánh 1450 như là "năm hoàng kim", ý chỉ sự hiệp nhất mới được tái lập sau cuộc phân ly trong Giáo Hội Lamã (1378-1417).

Đế quốc Đông La mã sụp đổ[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt triều đại của ông Đế Quốc La mã Phương Tây suy tàn khi Mohammed II chiếm Constantinopolis.

Chỉ một tháng sau khi sắc lệnh hiệp nhất được ký giữa Giáo hội Hy lạp và Roma phần đông tín đồ Hy lạp cùng với hàng giáo sĩ và tu sĩ đứng lên chống đối và đả kích chính trị của Hoàng đế Joannes VIII Paleologus. Phái đoàn từ công đồng Florencia trở về Constantinopoli bị họ la lối, chế nhạo: "Quân ăn bánh không men, quân phản đạo, quân Roma, bọn tà giáo". Thế là không một ai giám tuyên bố sắc lệnh. Việc hiệp nhất ở Nga cũng thất bại.

Tân hoàng đế Constantinus XI Paleologus (1448-1453), tháng 12 năm 1452, lập lại bang giao với Roma và truyền công bố sắc lệnh hiệp nhất. Nhưng ngày hôm sau, hàng giáo sĩ được dân chúng hậu thuẫn đã tuyên bố: "thà thấy khăn trắng của quân Thổ Nhĩ Kỳ thống trị thành Constantinopoli này, chẳng thà thấy mũ giáo chủ của bọn Roma". Ngày 29.5.1453, Mahomet II tiến vào Constantinopoli chấm dứt đế quốc Đông phương. Nicolaus lên tiếng kêu gọi Tây phương tổ chức binh thánh già nhưng không được ai hưởng ứng.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • 265 Đức Giáo hoàng, Thiên Hựu Nguyễn Thành Thống, NXB Văn Hóa Thông tin, xuất bản tháng 5 năm 2009.
  • Các vị Giáo hoàng của giáo hội toàn cầu, hội đồng giám mục Việt Nam [1]
  • Tóm lược tiểu sử các Đức Giáo hoàng, Đà Nẵng 2003,Jos. TVT chuyển ngữ từ Tiếng Anh.
  • Lịch sử đạo Thiên Chúa, Jean – Baptiste Duroselle và Jean – Marie Mayeur. Bộ sách giới thiệu những kiến thức thời đại: Que sais-je? Tôi biết gì? Người dịch: Trần Chí Đạo, Nhà xuất bản Thế giới tháng 4/2004.
  • Cuộc lữ hành đức tin, lịch sử Giáo hội Công giáo, Lm Phanxicô X. Ðào Trung Hiệu OP Hiệu đính tháng 9/2006, Đa Minh Việt Nam, Tỉnh dòng Nữ vương các thánh tử đạo.
  • Lịch sử Giáo hội Công Giáo, Linh mục O.P Bùi Đức Sinh – giáo sư sử học, Tập I và II, Nhà xuất bản Chân Lý, Giấy phép số: 2386 BTT/PHNT Sài Gòn ngày 28 tháng 7 năm 1972.