Romania

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Bước tới: menu, tìm kiếm
România
Cờ Romania Huy hiệu Romania
Khẩu hiệu
Không có
Quốc ca
Deşteaptă-te, române!
Vị trí của Romania
Thủ đô
(và là thành phố lớn nhất)
Bucharest
44°25′B, 26°06′Đ
Ngôn ngữ chính thức Tiếng Romania
Chính phủ Cộng hoà
 -  Tổng thống
Thủ tướng
Traian Băsescu
Emil Boc
Độc lập
 -  Tuyên bố
Công nhận
 
Diện tích
 -  Tổng số 238,392 km² (hạng 82)
 -  Nước (%) 3%
Dân số
 -  Ước lượng 2007 22.276.056 (hạng 50)
 -  Điều tra 2002 21.680.974 (hạng 50)
 -  Mật độ 93 /km² (hạng 104)
GDP (PPP) Ước tính 2007
 -  Tổng số 256,9 tỷ Mỹ kim (hạng 43)
 -  Theo đầu người 10.661 Mỹ kim (hạng 64)
HDI (2004) 0,805 (cao) (hạng 60)
Đơn vị tiền tệ Leu (RON)
Múi giờ CET (UTC+2)
 -  Mùa hè (DST) CEST (UTC+3)
Tên miền Internet .ro
Mã số điện thoại +40

Romania (tiếng Romania: România, tiếng Hán Việt cũ: Lỗ Ma Ni, còn gọi là Ru-ma-ni) là một quốc gia tại đông nam châu Âu. Romania giáp với UkrainaMoldova về phía bắc và đông bắc; giáp với Hungary về phía tây bắc; giáp với Serbia về phía tây nam; giáp với Bulgaria về phía nam và giáp với Biển Đen về phía đông. Nước này nằm trên phần lớn diện tích của đồng bằng sông Danube. Tính đến tháng 7 năm 2007, dân số của nước này là 22.276.056 người [1]. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất Romania là Bucharest.

Lãnh thổ Romania ngày nay được hình thành do sự hợp nhất của nhiều công quốc Romania thời trung cổ, trong đó quan trọng nhất là Moldavia, WallachiaTransylvania. Romania giành được độc lập từ tay Đế chế Ottoman và được cộng đồng quốc tế công nhận vào năm 1878. Sau Thế chiến thứ hai, Romania trở thành một nước theo chế độ xã hội chủ nghĩa có quan hệ gắn bó với Liên Xô. Năm 1989, chế độ xã hội chủ nghĩa sụp đổ tại Romania và nước này quay trở lại tiến trình dân chủ. Ngày 1 tháng 1 năm 2007, Romania đã chính thức trở thành một thành viên của Liên minh Châu Âu.

Mục lục

[sửa] Lịch sử

[sửa] Thời kỳ tiền sử

Vùng đất Romania ngày nay đã có những nhóm người khác nhau đến sinh sống từ thời tiền sử. Một mẫu hóa thạch xương hàm của người đàn ông đã được tìm thấy tại Romania và được xác định có niên đại khoảng 34.000 đến 36.000 năm. Đây được coi là mẫu hóa thạch người cổ nhất tại châu Âu[1]. Bên cạnh đó, một hộp sọ có niên đại khoảng 35.000 đến 40.000 năm cũng được tìm thấy tại một hang động gần Anina đã khẳng định con người đã xuất hiện tại vùng đất Romania từ rất sớm.

[sửa] Vương quốc Dacia

Vương quốc Dacia vào năm 82 trước công nguyên

Những người Dacia đã xuất hiện tại Romania ít nhất vào khoảng năm 513 trước công nguyên. Dưới sự lãnh đạo của Burebista, Dacia trở thành một quốc gia hùng mạnh và thậm chí còn đe dọa cả một số vùng của Đế chế La Mã. Julius Caesar dự định mở một chiến dịch lớn chống lại người Dacia nhưng ông đã bị ám sát vào năm 44 trước công nguyên. Không lâu sau đó, Burebista cũng bị ám sát bởi một trong những quý tộc của ông ta. Vương quốc Dacia bị phân thành những quốc gia nhỏ hơn rồi tái thống nhất lại vào năm 95 sau công nguyên dưới sự cai trị của vị vua Decebalus. Sau đó Dacia lại phải trải qua một giai đoạn đầy biến động cho đến khi hoàng đế La Mã Trajan đánh bại Decebalus vào năm 106 sau công nguyên và Dacia trở thành một phần của đế chế. Nhưng đến năm 271, người La Mã đã phải rút lui do sự xâm lược của người Goth và người Carpi đối với vùng đất này.

[sửa] Trung cổ

Khoảng năm 271 La Mã rút khỏi Daica. Dân du mục Goth vào chiếm và sinh sống với dân địa phương cho đến thề kỷ 4, khi dân du mục Hung tiến vào. Khu vực Transylvania do dân GepidAvar chiếm đóng cho đến thế kỷ 8. Sau đó bị sát nhập vào đế quốc Bulgaria đến năm 1018. Trong thế kỷ 10 - 11, Transylvania thuộc vương quốc Hungary cho đến thế kỉ 16 khi Tỉnh độc lập Transylvania được thành lập. Do sự tàn phá và các gánh nặng về kinh tế, dân địa phương không bị ảnh hưởng bởi dân nhập cư về văn hóa và lối sống. Người Pechenegs, người Cumans và người Uzes cũng được nhắc đến trong quá trình lịch sử trên vùng lãnh thổ Romania, cho đến sự thành lập của các tỉnh Romanian mang tên gọi Wallachia bởi Basarab I, và Moldavia bởi Dragoş vào thế kỉ thứ 13 và thứ 14 theo thứ tự được kể.

Vào thời Trung Cổ, người Romani sống trong hai tỉnh độc lập chính: Wallachia (tiếng Romani: Ţara Românească - "Đất của người Romani"), Moldavia (tiếng Romani: Moldova) cũng như tỉnh Transylvania được cai quản bởi Hungary.

Vào năm 1475, Stefan III Đại đế xứ Moldavia đã đại thắng trước quân của Đế quốc Ottoman tại Trận Vaslui. Wallachia và Moldavia sau này lại dần chịu sự bá chủ của Đế quốc Ottoman trong suốt thế kỉ 15 và thế kỉ 16 (năm 1476 đối với Wallachia, Moldavia vào năm 1514), như là những nước chư hầu phải nộp triều cống với quyền tự trị hoàn toàn và sự độc lập đối với bên ngoài cuối cùng mất hẳn vào thế kỉ thứ 18.

Một trong những vị vua kiệt xuất của Hungary, Mátyás Corvin (được biết đến trong tiếng Romania như là Matei Corvin), người trị vì từ 1458-1490, được sinh ra ở Transylvania. Ông tự nhận là người Romania bởi vì cha ông là người Romania, Iancu de Hunedoara (Hunyadi János trong tiếng Hungary), và bởi người Hungary vì mẹ ông là người Hungary. Sau này, vào năm 1541, Transylvania trở thành một bang gồm nhiều chủng tộc dưới sự cai trị của Đế quốc Ottoman sau trận Mohács.

[sửa] Cận đại

Michael Dũng cảm (Romanian: Mihai Viteazul) (1558-9 tháng 8 năm 1601) là Hoàng thân xứ Wallachia (1593-1601), xứ Transylvania (1599-1600), và xứ Moldavia (1600). Trong suốt thời gian ông ta trị vì 3 tỉnh này được cư ngụ đa số bởi người Romania lần đầu tiên sống dưới cùng một chế độ cai trị.

Peleş Castle, retreat of Romanian monarchs

Vào năm 1812 Đế quốc Nga sát nhập Bessarabia, phân nửa phần phía đông của Moldavia (một phần bị mất do Hòa ước Paris (1856)); vào năm 1775 hoàng tộc Habsburg đã sát nhập phần phía bắc, Bukovina, và Đế quốc Ottoman phần đông-nam, Budjak.

Vào cuối thế kỉ 18, triều đình Habsburg đã sát nhập Transylvania vào phần mà sau này trở thành Đế quốc Áo. Trong suốt thời gian thống trị của đế quốc Áo-Hung (1867-1918), người dân Romania ở vùng Transylvania đã trải qua một sự đàn áp tệ hại nhất dưới hình thức các chính sách Hungary hóa của nhà nước Hungary.

[sửa] Vương quốc Romania

Nước Romania hiện đại được thành lập với sự sát nhập của hai bang Moldavia và Wallachia vào năm 1859 dưới thời hoàng thân Alexandru Ioan Cuza xứ Moldavia. Ông ta bị thay thế bởi Hoàng thân Karl xứ Hohenzollern-Sigmaringen vào năm 1866. Trong Chiến tranh Nga-Thổ Nhĩ Kỳ, 1877-78, Romania chiến đấu ủng hộ phía Nga; trong Hiệp định Berlin, 1878 Romania được công nhận như là một nước độc lập bởi các nước Đế quốc. Để đổi lại việc nhượng cho Nga ba quận phía nam của Bessarabia mà sau này được lấy lại bởi Moldavia sau Chiến tranh Krym vào năm 1852, Vương quốc Romania đoạt lấy Dobruja. Vào năm 1881 bang này được nâng lên thành một vương quốc và Hoàng thân Carol I trở thành vua Carol I.

Iaşi, Cung điện Văn hoá

Romania tham gia Thế chiến thứ I cùng phe với Triple Entente. Chiến dịch quân sự của Romania đã kết thúc thảm hại khi các Thế lực Trung tâm chinh phục phần lớn đất nước và bắt hoặc giết phần lớn quân đội Romania chỉ trong vòng 4 tháng. Vào cuối cuộc chiến Áo-Hungary và Đế chế Nga sụp đổ, cho phép Bessarabia, Bukovina và Transylvania tái gia nhập với Vương quốc Romania vào năm 1918. Nước Hungary khôi phục sau cuộc chiến đã bãi bỏ các đặc quyền và danh hiệu của Hoàng tộc Habsburg trong Hiệp ước Trianon vào năm 1920.

[sửa] Thế chiến thứ hai

Năm 1940 trong Thế chiến thứ II, Bắc Bukovina và Bessarabia, Bắc Transylvania và phía nam Dobruja bị chiếm bởi Liên Xô, HungaryBulgary theo thứ tự kể trên. Vua Vua Carol II độc đoán đã thoái vị vào năm 1940 và những năm sau đó Romania bước vào cuộc chiến tham gia lực lượng của Phe Trục. Sau sự xâm lấn của Liên Xô, Romania lấy lại được Bessarabia và phía bắc Bukovina từ nước Nga Xô-viết, dưới sự lãnh đạo của tướng Ion Antonescu. Đức tặng thưởng lãnh thổ Transnistria cho Romania. Trong suốt Thế chiến thứ II, chính quyền Antonescu, liên minh với phát xít Đức, đã đóng một vai trò trong Holocaust, với các chính sách đàn áp và tàn sát người Do Thái, và ở mức độ thấp hơn là người Roma. Theo một báo cáo phát hành năm 2004 bởi một cơ quan do cựu Tổng Thống Ion Iliescu bổ nhiệm và điều hành bởi Elie Wiesel (người đã từng đoạt giải Nobel), các nhà cầm quyền Romania là thủ phạm trong việc lên kế hoạch và thực hiện việc giết từ 280.000 đến 380.000 người Do Thái, nguyên trong miền Đông Romania thu lại hay chiếm của Liên Xô, dù trong một số tài liệu ước lượng thương vong trong thế chiến II thậm chí còn cao hơn.

Vào tháng 8 năm 1944 chính quyền Antonescu bị lật đổ, và Romania gia nhập phe Đồng minh chống lại phát xít Đức, nhưng vai trò của nước này trong việc đánh bại Đức không được công nhận bởi Hiệp định Hòa bình Paris, 1947.

[sửa] Chế độ Cộng Sản

Vào năm 1947,vua Michael I bị những người Cộng sản bắt phải từ bỏ quyền lực và rời khỏi đất nước.Sau đó, Romania tuyên bố là một nhà nước Cộng hòa và đặt dưới sự quản trị của quân đội Liên Xô cùng nền kinh tế phụ thuộc Liên Xô cho đến thập niên 50 của thế kỉ XX.Trong thời gian đó,phần lớn nguồn tài nguyên của Romania đã bị khai thác gần như cạn kiệt do sự thỏa thuận của Liên Xô và Romania trong hiệp định Xô-Rom.Sau cuộc thương thảo về việc rút lui của Liên Xô tại đây vào năm 1958,Romania,dưới sự lãnh đạo của Nicolae Ceauşescu,bắt đầu theo đuổi những chính sách độc lập hơn với Liên xô như việc chỉ trích Khối Warsaw can thiệp quân sự vào Tiệp Khắc,tiếp tục duy trì quan hệ ngoại giao với Israel sau Cuộc chiến 6 ngày năm 1967,thiết lập các mối quan hệ kinh tế và ngoại giao với Cộng hòa Liên bang Đức.Ngoài ra,sự hợp tác chặt chẽ với các quốc gia Ả rập cho phép Romania đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình đối thoại Israel-Ai Cập và Israel-PLO.Tuy nhiên,nợ nước ngoài của Romania gia tăng không ngừng,từ năm 1977-1981,nợ nước ngoài tăng từ 3 lên 10 tỷ USD,ảnh hưởng của các tổ chức tài chính quốc tế như IMF và Ngân hàng thế giới tăng lên,mâu thuẫn với đường lối chính trị của Nicolae Ceauşescu.Ông đề xướng một dự án cuối cùng để hoàn trả nợ nước ngoài của Romania bởi các đường lối chính trị trên đã làm nghèo và kiệt quệ Romania,trong khi mở rộng quyền lực của công an và tệ sùng bái cá nhân.Việc đó đã làm giản uy tín của Nicolae Ceauşescu và dẫn đến việc ông bị tử hình trong cuộc Cách mạng Romania năm 1989.

[sửa] Sau 1989

Sau khi chiến tranh lạnh kết thúc vào năm 1989, Romania phát triển một mối quan hệ thân thiện hơn với các nước Tây Âu, nước này nhanh chóng xin nộp đơn xin gia nhập EU vào tháng 6 năm 1993, năm 1995 trở thành thành viên liên lạc của EU, gia nhập NATO vào năm 2004 và trở thành một nước chuẩn bị hội nhập vào Liên Âu, ở giai đoạn cuối cùng của quá trình gia nhập vào 1 tháng 1, 2007. Hiệp định gia nhập của Romania đã được kí bởi các thành viên của Liên Âu tại Luxembourg, Abbaye de Neumünster, vào ngày April 25 2005.

Sau khi chế độ Ceauşescu sụp đổ, Mặt trận cứu quốc (National Salvation Front - FSN) đã thiết lập lại trật tự xã hội và khôi phục phần nào các thể chế dân chủ. Do vậy, các đảng phái chính trị từ trước chiến tranh, như Đảng Nông dân dân chủ Thiên chúa giáo Quốc gia (National Christian Democrat Peasant's Party -PNTCD), Đảng Quốc gia Tự do (National Liberal Party -PNL) và Đảng Dân chủ Xã hội Romania (Romanian Social Democrat Party -PSDR) được khôi phục.

Vào tháng 4 năm 1990 đã xảy ra một cuộc biểu tình ngồi phản đối kết quả bầu cử quốc hội bắt đầu từ Quảng trường Đại học, Bucharest. Những người biểu tình đã lên án The protesters accused FSN of being made up of former Communists and members of the Securitate, protesters did not recognize the results of the election which they deemed undemocratic and they were asking for the exclusion from the political life of the former high-rank members of the Communist Party. The protest rapidly grew to become an on-going mass demonstration. The peaceful demonstrations degenerated into violence. After the police failed to bring the demonstrators to order, Ion Iliescu called on the "men of good will" to come and defend the Bucharest and State institutions. Coal miners of the Jiu Valley answered the call and arrived in Bucharest on June 14. Their violent intervention is remembered as the June 1990 Mineriad.


The subsequent disintegration of the FSN, which did not have a clear political platform, produced several political parties including the Democratic Party (PD), the Social Democratic Party (PSD) formerly known as the PDSR (Romanian Democrat Social Party), and the APR (Alliance for Romania).

Throughout several coalitions, and governments, the Socialist parties emerged from the FSN have governed Romania from 1990 until 1996 with Ion Iliescu as head of state. Since then there have been three democratic changes of government: in 1996, the democratic-liberal opposition and its leader Emil Constantinescu acceeded to power, in 2000 the Social Democrats returned to power, with Ion Iliescu once again president and in 2004 Traian Băsescu was elected president of Romania, supported during elections by a coalition called Justice and Truth Alliance (DA). The government was formed by a larger coalition which also includes the Conservative Party and the ethnic Hungarian party.

[sửa] Kinh tế

Romania cũng là một đất nước sử dụng hiệu quả đồng tiền với chất liệu polyme

[sửa] Thắng cảnh du lịch

[sửa] Tham khảo

  1. ^ http://news.bbc.co.uk/2/hi/science/nature/3129654.stm Hóa thạch người tại châu Âu - BBC


Công cụ cá nhân
Ngôn ngữ khác