Đấu vật
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đấu vật là môn thể thao tác chiến giữa hai đối thủ cố gắng kềm chế đối phương bằng cách nắm, kéo, vặn, đè, v.v... nhưng không được trực tiếp đấm hay đá. Tùy theo luật lệ của từng địa phương, bàn thắng về tay người dự giải nào chiếm được nhiều ưu điểm: bằng các đè ngữa đối phương, hoặc đối phương chịu thua hay bị đẩy ra ngoài vòng thi đấu. Những vận động viên tham gia môn thể thao này được gọi là các đô vật.
Mục lục |
[sửa] Thế vận hội
Những người đoạt huy hương giải đấu vật hạng nặng (96kg)
| Năm | Tại | Vàng | Bạc | Đồng |
|---|---|---|---|---|
| 1972 | München | Ivan Yarygin (Liên Xô) | Khorloo Bainmunkh (Mông Cổ) | Jozsef Csatari (Hungary) |
| 1976 | Montréal | Ivan Yarygin (Liên Xô) | Russell Hellickson (Hoa Kỳ) | Dimo Kostov (Bulgaria) |
| 1980 | Moskva | Illya Mate (Liên Xô | Slavcho Chervenkov (Bulgaria) | Julius Strnisko (Cộng hòa Séc) |
| 1984 | Los Angeles | Louis Banach (Hoa Kỳ) | Joseph Atiyeh (Syria) | Vasile Puscasu (Romania) |
| 1988 | Seoul | Vasile Puscasu (Romania) | Leri Khabelov (Liên Xô) | William Scherr (Hoa Kỳ) |
| 1992 | Barcelona | Leri Khabelov (EUN) | Heiko Balz (Đức) | Au Kayali (Thổ Nhĩ Kỳ) |
| 1996 | Atlanta | Kurt Angle (Hoa Kỳ) | Abbas Jadidi (Iran) | Arawat Sabejew (Đức) |
| 2000 | Sydney | Saghid Mourtasaliyev (Nga) | Islam Bayramukov (Kazakhstan) | Eldar Kurtanidze (Gruzia) |
| 2004 | Athena | Khajimurat Gatsalov (Nga) | Magomed Ibragimov (Uzbekistan) | Alireza Heidari (Iran) |
[sửa] Sumo
Sumo (tiếng Nhật: 相撲 hoặc すもう, đọc là Xư-mô) là một môn võ cổ truyền của Nhật Bản. Hai lực sĩ sumo sẽ phải đấu với nhau trong một vòng tròn gọi là dohyo (土俵) có đường kính khoảng 4,55 mét (hay 15 shaku theo đơn vị đo chiều dài ở Nhật Bản). Lực sĩ nào bị ngã trong vòng tròn trước hay bị đẩy khỏi vòng tròn trước là người thua cuộc.
[sửa] Đấu vật chuyên nghiệp
Đấu vật chuyên nghiệp (professional wrestling) là một dạng đấu vật mang tính biểu diễn. Khác với những môn thi đấu mang tính cạnh tranh, trong đấu vật chuyên nghiệp chuyện thắng hay thua hoàn toàn không quan trọng, bởi vì thắng thua là do người viết kịch bản quyết định (gọi là "booker"). Tuy nhiên, "booker" chỉ quyết định ai sẽ thắng, và thắng như thế nào. Mỗi đô vật được gọi là "siêu sao" (superstar), nữ gọi là "diva". Ví dụ, "booker" quyết định "siêu sao" A sẽ thắng "siêu sao" B một cách rõ ràng, hay thắng nhờ ăn gian, hay có người giúp đỡ, v.v. Sau đó những đô vật này sẽ tự tập luyện những chi tiết với nhau trong vòng một tuần, và khi ra đấu sẽ diễn lại những gì đã tập dợt sẵn. Trong lúc những môn như quyền Anh, những vận động viên tập luyện kĩ năng để gây sát thương cho nhau, thì những đô vật chuyên nghiệp luyện kỹ năng để giúp đỡ lẫn nhau, và bảo vệ nhau trong lúc biểu diễn để tránh chấn thương.
Mỗi "siêu sao" có một chiêu thức để kết thúc trận đấu, ví dụ như Triple H có "Pedigree", hay Shawn Michaels có "SCM" (Sweet Chin Music), khi sử dụng chiêu thức này thường là chiến thắng luôn. Chiến thắng có thể bằng nhiều cách, như "Pin fall" (đè đếm đến 3), hay "submission" (chịu thua). "The Ankle Lock" của Kurt Angle là thuộc loại "submission". Những chiêu thức này thường có vẻ ghê gớm, nhưng khi đánh thì các đô vật sử dụng tiểu xảo để bảo vệ đối thủ khỏi bị chấn thương. Khi một đô vật chuyên nghiệp giả vờ tỏ ra đau đớn sau khi bị đánh thì gọi là "sell a move".
Trong đấu vật chuyên nghiệp có thể nói là không có đô vật, chỉ có "nhân vật", mỗi "nhân vật" cố tạo ngoại hình, tính cách khác biệt, và phải đăng ký "chiêu thức" khác nhau để tránh trùng lặp. Ví dụ: Eddie Fatu từng đóng vai các nhân vật Jamal, Ekmo, và gần đây, Umaga. Tuy Eddie Fatu nói tiếng Anh rất rành (là người Mỹ), nhân vật Umaga lại tỏ ra hoàn toàn không biết tiếng Anh.
Những đô vật ký hợp đồng với một công ty sẽ có những câu chuyện để họ "xung đột" với nhau. Một "xung đột" giữa "siêu sao" A và "siêu sao" B sẽ dánh nhau trong một thời gian vài tuần, nếu được khán giả hâm mộ, sẽ kéo dài thêm. Thường trong những buổi diễn bình thường, họ dùng lúc này để xây dựng vụ xung đột cho thêm gây cấn, sau đó sẽ có trận đấu ở các buổi diễn lớn (gọi là "Pay Per View"). Để dễ viết những câu chuyện, các đô vật được chia làm 2 phe: vai tốt (gọi là "babyface") và vai xấu (gọi là "heel"). Một cuộc "xung đột" thường diễn ra giữa một "vai tốt" và một "vai xấu". "Vai tốt" thường tỏ ra mạnh mẽ và hay giúp đỡ kẻ yếu, còn "vai xấu" tỏ ra hèn nhát, tìm cách ăn gian để chiến thắng. Những "siêu sao" thường xuyên đổi từ "vai tốt" sang "vai xấu" và ngược lại. Ví dụ như Randy Orton khi "xung đột" với Triple H ở năm 2003 thì là "vai tốt", nhưng vào năm 2007 khi "xung đột" với John Cena thì đóng "vai xấu". Khi khán giả đi xem đấu vật, họ sẽ cổ vũ cho nhân vật tốt, và chế giễu nhân vật xấu; ví dụ như dù nhiều khán giả hâm mộ Edge, họ vẫn sẽ chế giễu anh ta, bởi vì anh ta đóng vai xấu.
Do không có tính cạnh tranh, nên các đô vật chuyên nghiệp thản nhiên sử dụng chất kích thích (steroid), để giảm mỡ, tăng trọng, và có cơ bắp cuồn cuộn để khán giả thích. Tuy nhiên, việc sử dụng chất kích thích này gây hại, và gần đây nhiều vụ scandal đã xảy ra như cái chết của Eddie Guerrero (suy tim năm 2005) và vụ tự sát giết vợ con của Chris Benoit (2007).
Công ty professional wrestling lớn và lâu đời nhất là WWE (có tới 3 show là RAW, SmackDown! và ECW), với những người cực kỳ nổi tiếng như Hulk Hogan, Stone Cold Steve Austin, The Rock và RVD. Những công ty bé hơn là TNA, ROH. TNA gần đây có nhiều đô vật nổi tiếng như A.J. Styles và Samoa Joe.
Do một kĩ năng quan trọng của đô vật chuyên nghiệp là diễn xuất nên một số người đã được mời đi đóng phim, như Hulk Hogan, The Rock, Stone Cold, hay HHH trong phim Blade 3: Trinity.
[sửa] Liên kết ngoài
| Bài này còn sơ khai. Bạn có thể góp sức viết bổ sung cho bài được hoàn thiện hơn. Xem phần trợ giúp để biết thêm về cách sửa đổi bài. |

