Aikido

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một cảnh luyện tập Aikido. Nage giữ thăng bằng để ném uke, trong khi uke lăn lên phía trước một cách an toàn (zenpō kaiten)

Aikido (tiếng Nhật 合氣道 (Kana:あいきどう), Hiệp khí đạo) là một môn võ thuật hiện đại của Nhật Bản được Ueshiba Morihei (1883-1969) sáng tạo ra trên cơ sở các môn võ thuật cổ truyền của Nhật Bản như Nhu thuật (Jujitsu), Kiếm thuật (Kenjutsu), và Thương thuật (Sojutsu).

Về tên gọi của môn phái[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Aikidō của môn phái được tạo nên bởi ba chữ Hán - Nhật:

  • 合 - ai: hiệp, hợp, hòa hợp, hài hòa
  • 氣 - ki: khí, tinh thần, thể (khí) của chất (huyết)
  • 道 - : đạo, con đường
Hiệp-Khí-Đạo viết bằng chữ Hán-Nhật theo lối Thư-Đạo

Aiki (合気) được các cao thủ Aikidō giải nghĩa là "cảm giác được bản thân và đối thủ hòa làm một và cả hai đều hòa hợp với vũ trụ".

Tương truyền, sau này Ueshiba Morihei hay giải thích Ai trong Aikidō nghĩa là "yêu thương", có lẽ dựa trên cơ sở đồng âm tiếng Nhật với từ 愛 (ái).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ueshiba Morihei, người sáng lập ra Aikido.

Aikido, đúng như sự hình dung của người sáng lập ra nó, không chỉ là sự tổng hợp của việc luyện tập võ thuật của người sáng lập, mà còn bộc lộ triết lý riêng của ông về hòa bình và hòa hợp vũ trụ. Ngày nay, Aikido tiếp tục sự phát triển của nó từ cổ lưu (võ thuật cổ), thành những thể hiện cực kì đa dạng của các võ sư khác nhau trên toàn thế giới.[1]

Aikido được sáng lập bởi Ueshiba Morihei (植芝 盛平 Ueshiba Morihei, 14 tháng 12 188326 tháng tư 1969), cũng được các võ sinh coi là Ōsensei ("Người thày vĩ đại").[2] Ueshiba Morihei phát triển Aikido chủ yếu vào cuối những năm 1920 cho tới những năm 1930 qua sự tổng hợp các môn võ cổ mà ông đã học được.[3] Aikido phát triển chủ yếu từ Daitō-ryū aiki-jūjutsu, mà Ueshiba Morihei đã học trực tiếp với Takeda Sokaku (武田 惣角 Takeda Sōkaku, 1859–1943). Thêm vào đó, Ueshiba Morihei cũng đã học Tenjin Shin'yō-ryū với Tozawa Tokusaburō (戸沢 徳三郎, 1848–1912) ở Tokyo vào năm 1901, Gotōha Yagyū Shingan-ryū với Nakai Masakatsu (中井 正勝, fl. 1891–1908) ở Sakai từ 1903 đến 1908, và judo với Kiyoichi Takagi (高木 喜代子 Takagi Kiyoichi, 1894–1972) ở Tanabe vào năm 1911.[4]

Daitō-ryū là môn có ảnh hưởng lớn nhất đến Aikido. Cùng với các kĩ thuật ném tay không và khóa khớp, Ueshiba Morihei kết hợp luyện tập di chuyển có vũ khí, như là giáo (yari), gậy ngắn (), và có thể cả đoản dao (jūken). Tuy nhiên, Aikido phát triển phần lớn các cấu trúc đòn đánh từ Kiếm thuật (kenjutsu).

Ueshiba Morihei tới Hokkaidō năm 1912, và bắt đầu học dưới sự dạy dỗ của Takeda Sokaku vào năm 1915. Việc học Daitō-ryū tiếp tục cho đến năm 1937.[3] Tuy nhiên, sau thời gian đó, Ueshiba Morihei bắt đầu xa rời Takeda và môn Daitō-ryū. Vào thời điểm đó, Ueshiba Morihei dùng từ "Aiki Budō" để nói đến môn võ của ông. Không rõ chính xác khi nào Ueshiba Morihei bắt đầu sử dụng cái tên "Aikido", nhưng nó trở thành tên chính thức của môn võ vào năm 1942, khi Dai Nippon Butoku Kai được tham gia vào việc tổ chức lại và tập trung hóa các môn võ Nhật Bản của chính phủ.[1]

Onisaburo Deguchi, giáo chủ đạo Oomoto

Sau khi Ueshiba Morihei rời Hokkaidō năm 1919, ông gặp và chịu ảnh hưởng lớn từ Onisaburo Deguchi (出口 王仁三郎), giáo chủ của đạo Đại Bản Giáo (Oomoto) ở Ayabe.[5] Một trong những đặc điểm chủ yếu của đạo Oomoto là nó nhấn mạnh đến sự đạt được cõi hoàn hảo trong một đời người. Điều này tạo ảnh hưởng lớn đến triết lý của môn võ của Ueshiba Morihei về rộng mở tình yêu thương và sự cảm thông, đặc biệt đối với những ai muốn hãm hại người khác. Aikido thể hiện triết lý này trong việc nhấn mạnh rằng, nắm vững võ thuật để mà nhận đòn và chuyển hướng nó đi một cách vô hại. Trong trường hợp lý tưởng, không chỉ người nhận mà cả người tấn công cũng vô hại.[6]

Aikido lần đầu tiên được truyền bá tới phương Tây vào năm 1951 bởi Minoru Mochizuki (望月 稔 Mōchizuki Minoru, 1907–2003) trong một chuyến đi tới Pháp nơi mà ông giới thiệu các kĩ thuật Aikido tới các môn sinh Judo.[7] Theo sau ông là Tadashi Abe (阿部 正 Abe Tadashi, 1926–1984) vào năm 1952 người trở thành đại diện Aikikai Hombu chính thức, ở lại Pháp trong bảy năm. Kenji Tomiki (富木 謙治 Tomiki Kenji, 1900–1979) đi du lịch với một đoàn đại biểu các võ sư khác nhau từ mười lăm bang của Hoa Kỳ năm 1953. Sau đó trong năm ấy, Koichi Tohei (藤平 光一 Tōhei Kōichi, sinh năm 1920) được gửi bởi Aikikai Hombu tới Hawaii, trong một năm tròn, nơi ông lập lên một vài dojo. Việc này được ủng hộ bởi một vài chuyến thăm khác và được xem là sự truyền bá chính thức Aikido tới Hoa Kỳ. Vương quốc Anh theo sau vào năm 1955; Ý năm 1964; ĐứcAustralia năm 1965. Ngày nay có các dojo Aikido để luyện tập trên toàn thế giới.

Luyện tập thể chất[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Aikido, cũng như trong tất cả các môn võ Nhật Bản khác, vừa có sự luyện tập thể chất, vừa có sự luyện tập về mặt tinh thần. Việc luyện tập thể chất trong Aikido rất phong phú, bao gồm cả luyện tập thể chất và trau dồi kinh nghiệm nói chung, cũng như các kĩ thuật đặc biệt.[8] Bởi một phần quan trọng trong việc luyện tập Aikido luôn bao gồm đòn ném đối thủ, nên điều đầu tiên môn sinh cần học là làm thế nào để ngã hoặc lăn an toàn.[9] Các kĩ thuật đánh đặc biệt bao gồm đánh và nắm; các kĩ thuật phòng thủ bao gồm ném và khóa. Sau khi học xong các kĩ thuật cơ bản, môn sinh bắt đầu phòng thủ tự do chống lại nhiều đối thủ, và trong nhiều trường hợp là các kĩ thuật chống vũ khí.

Luyện tập thể chất nói chung[sửa | sửa mã nguồn]

Tước vũ khí sử dụng đòn "cướp kiếm" (tachi-dori)

Mục đích luyện tập thể chất trong Aikido là điều hòa nhịp vận động, linh hoạt, và sự bền bỉ, không chú trọng đến sức lực mang vác. Trong các kĩ thuật Aikido, ấn hoặc di chuyển mở thông dụng hơn nhiều so với kéo hoặc di chuyển co lại như trong các môn võ khác, và sự khác biệt này có thể áp dụng cho các mục đích luyện tập thể chất nói chung của các học viên Aikido.

Một số hoạt động rèn luyện theo hướng nín thở, như nâng vật nặng, chú trọng đến sức mạnh co lại, trong đó các cơ bắp phải gồng lên để tăng cường độ cứng, khối lượng và sức mạnh. Các hoạt động luyện tập liên quan đến Aikido thay vào đó lại chú trọng đến việc sử dụng di chuyển toàn thân một cách hài hòa và cân bằng, gần giống với yoga hay uốn dẻo. Ví dụ, rất nhiều dojo bắt đầu lớp học bằng bài tập làm ấm (準備体操 junbi taisō?), có thể là kéo giãn hoặc bẻ.[10]

Luyện tập Aikido phần lớn dựa trên các bài quyền (kata), luyện tập bởi hai người với nhau hơn là luyện tập tự do. Một mẫu chung cho người nhận đòn đánh (uke) là tấn công người ném (nage, cũng gọi là tori hoặc shite dựa trên loại Aikido), người vô hiệu hóa đòn tấn công này bằng một kĩ thuật Aikido.

Cả hai nửa của kĩ thuật đó, của uke và của nage, được coi là căn bản trong việc luyện tập Aikido. Cả hai phải luyện tập các nguyên tắc Aikido về hòa hợp và thích ứng. Nage học cách hòa hợp và kiểm soát năng lượng đánh, trong khi uke học cách trở nên bình tĩnh và linh hoạt trong thế bất lợi, các vị trí mất thăng bằng mà nage gây ra. Sự "nhận" của đòn đánh được gọi là ukemi.[11] Uke liên tục tìm cách lấy lại thế cân bằng và che chỗ sơ hở (v.d. hở sườn), trong khi nage sử dụng vị trí và căn thời gian để làm uke mất thăng bằng và bị thương. Trong các bài tập cao hơn, uke thỉnh thoảng sử dụng các kĩ thuật ngược (kaeshi-waza) để lấy lại thăng bằng và khóa hoặc ném nage.

Ukemi (受身?), nghĩa là "người nhận". Ukemi giỏi phải biết làm chệch hướng đánh hoặc bẻ để tránh bị thương.[11] Khi áp dụng một đòn đánh, nhiệm vụ của nage là tránh làm thương uke bằng cách sử dụng tốc độ và lực đánh phù hợp với trình độ của uke trong ukemi.[11] Thương tích (đặc biệt đối với khớp), khi chúng xảy ra trong Aikido, thường là do nage đánh giá sai khả năng của uke khi nhận đòn ném hoặc khóa.[12][13]

Kĩ thuật chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Môn sinh học rất nhiều đòn đánh khác nhau để mà các kĩ thuật Aikido có thể thực hiện được. Mặc dù các đòn đánh không được luyện tập xuyên suốt như các môn võ dựa trên các đòn đánh, các đòn đánh mạnh hoặc giữ chặt cần để học cách áp dụng các kĩ thuật đánh một cách đúng đắn và hiệu quả.[14]

Rất nhiều đòn (打ち uchi?) của Aikido thường được xem là tương tự đòn chém của kiếm hoặc một vật được cầm nắm khác, có thể cho thấy nguồn gốc các kĩ thuật là từ chiến đấu có vũ khí.[14] Các kĩ thuật khác có vẻ là đấm (tsuki), cũng được luyện tập như là lao vào với kiếm hoặc dao. Đá thường là dành cho các biến tướng ở trình độ cao; lý do là vì việc ngã sau một đòn đá là rất nguy hiểm, và đòn đá (đá cao nói riêng) không thông dụng trong các trận chiến thời phong kiến Nhật Bản. Một số đòn đánh cơ bản bao gồm:

  • Chém trước đầu (正面打ち shōmen'uchi?) một đòn chém dọc vào đầu.
  • Chém cạnh đầu (横面打ち yokomen'uchi?) một đòn chém chéo bằng dao vào cạnh đầu hoặc cổ.
  • Đấm ngực (胸突き mune-tsuki?) một cú đấm vào thân. Các mục tiêu đặc biệt bao gồm ngực, bụng, và dạ dày. Cũng giống như "đấm trung đẳng" (中段突き chūdan-tsuki?), và "đấm trực tiếp" (直突き choku-tsuki?).
  • Đấm mặt (顔面突き ganmen-tsuki?) một cú đấm vào mặt. Cũng như "đấm thượng đẳng" (上段突き jōdan-tsuki?).

Người mới luyện tập thường tập các kĩ thuật từ tư thế nắm, bởi nó an toàn hơn và bởi nó dễ dàng hơn để cảm nhận dòng năng lượng và lực nắm hơn là một cú đánh. Một số tư thế nắm phát triển từ từ thế nắm khi đang cướp vũ khí; một đòn sau đó được sử dụng để thoát ra và làm bất động hoặc tấn công người cầm nắm. Một số ví dụ về các đòn nắm cơ bản:

  • Nắm một tay (片手取り katate-dori?) một tay nắm một cổ tay.
  • Nắm hai tay (諸手取り morote-dori?) hai tay nắm một cổ tay.
  • Nắm hai tay (両手取り ryōte-dori?) hai tay nắm hai cổ tay. Cũng giống như "Nắm hai tay vào một tay" (両片手取り ryōkatate-dori?).
  • Nắm vai (肩取り kata-dori?) tư thế nắm vai.  "Nắm hai vai" là ryōkata-dori (両肩取り?)
  • Nắm ngực (胸取り mune-dori?) nắm phần ngực (áo). Cũng giống như "nắm cổ áo" (襟取り eri-dori?).
Lược đồ đòn ikkyō, hay "Đòn số một". Yonkyō có cùng cách thức đánh, nhưng tay trên nắm cẳng tay thay vì nắm cùi trỏ.

Sau đây là một mẫu của các đòn ném và khóa cơ bản được luyện tập nhiều. Thuật ngữ có thể thay đổi tùy vào các tổ chức và loại Aikido, vì vậy những thứ sau đây là các thuật ngữ được sử dụng bởi Tổ chức Aikikai. Nhớ rằng mặc dù tền của năm đòn đầu tiên được liệt kê ra, chúng không phải lúc nào cũng được dạy theo trình tự như vậy.[15]

  • Đòn thứ nhất (一教 ikkyō?) một đòn kiểm soát đặt một tay lên củi trỏ và một tay gần cổ tay để ấn uke xuống đất. Tư thế nắm này cũng gây ra áp lực lên dây thần kinh ở củi trỏ.
  • Đòn thứ hai (二教 nikyō?) một đòn khóa cổ tay làm vặn tay và gây đau đớn.
  • Đòn thứ ba (三教 sankyō?) một đòn vặn hướng xoắn lên gây đau toàn bộ tay, củi trỏ và vai.
  • Đòn thứ tư (四教 yonkyō?) kiểm soát vai tương tự ikkyō, nhưng với cả hai tay giữ cẳng tay.
  • Đòn thứ năm (五教 gokyō?) một biến thể của ikkyō trong đó tay nắm cổ tay là ngược lại. Thông dụng trong tantō và các đòn tước vũ khí khác.
  • Ném bốn hướng (四方投げ shihōnage?) Tay bị gập lại ra sau vai, khóa khớp vai.
  • Trả cẳng tay (小手返し kotegaeshi?) một đòn khóa cổ tay-ném kéo giãn gân.
  • Ném thở (呼吸投げ kokyūnage?) một thuật ngữ dùng cho rất nhiều loại "ném căn thời gian".
  • Ném tiến vào (入身投げ iriminage?) đòn ném mà trong đó nage di chuyển vào nơi uke đứng.
  • Ném Thiên-Địa (天地投げ tenchinage?) bắt đầu bằng ryōte-dori; tiến lên, nage luồn một tay xuống thấp ("Địa") và một tay cao ("Thiên"), làm uke mất thăng bằng để mà đối thủ bị ngã.
  • Ném hông (腰投げ koshinage?) phiên bản Aikido của đòn ném hông. Nage hạ thấp hông hơn uke, sau đó bẩy uke lên.
  • Ném thập tự (十字投げ jūjinage?) một đòn ném mà khóa tay lại với nhau. (nage là ném: 投げ) (jūji là thập tự: 十字)
  • Ném xoay (回転投げ kaitennage?) nage luồn tay ra sau cho tới khi khóa được khớp vai, sau đó ấn lên phía trước để ném.

Luyện tập vũ khí trong Aikido theo truyền thống bao gồm gậy ngắn (), kiếm gỗ (bokken), và dao (tantō). Ngày nay, một vài trường cũng đã kết hợp các kĩ thuật cướp súng. Cả cướp vũ khí và giữ vũ khí thỉnh thoảng cũng được dạy, để hoàn chỉnh khía cạnh vũ trang và phi vũ trang, mặc dù một số trường Aikido không hề luyện tập với vũ khí. Những trường khác, như Aikido Iwama của Morihiro Saito (斉藤 守弘 Saitō Morihiro, 1928–2002), thường luyện tập phần lớn thời gian với bokken, dùng các tên aiki-ken, và aiki-jō, tương ứng. Người sáng lập đã phát triển rất phần lớn Aikido tay không từ các cách di chuyển của kiếm và gậy, vì vậy việc luyện tập các bước di chuyển này thường dành cho mục đích cảm nhận về nguồn gốc của đòn đánh và bước di chuyển.[16]

Thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Lược đồ cách thực hiện đòn ikkyō ở dạng omoteura.

Aikido dùng thân pháp (tai sabaki) để đối phó uke. Ví dụ, một đòn "bước vào" (入身 irimi?) bao gồm di chuyển tiến vào phía trong của uke, trong khi một đòn "xoay" (転換 tenkan?) sử dụng chuyển động tròn.[17] Thêm vào đó, một đòn "phía trong" ( uchi?) được thực hiện ở phía trước uke, trong khi một đòn "phía ngoài" ( soto?) được thực hiện ở ở bên cạnh uke; một đòn "phía trước" ( omote?) được thực hiện cùng với sự di chuyển vào phía trước uke, và một phiên bản "phía sau" ( ura?) được thực hiện cùng với sự di chuyển vào phía sau uke, thường là bằng sự kết hợp chuyển động xoay vòng. Cuối cùng, phần lớn các đòn có thể được thực hiện ở tư thế ngồi (seiza). Các đòn ở tư thế ngồi gọi là suwari-waza.[18]

Do đó, chỉ từ ít hơn hai chục đòn cơ bản, có đến hàng nghìn cách thực hiện khác nhau. Ví dụ, ikkyō có thể được thực hiện đối với đối thủ đang tiến đánh (có thể với loại di chuyển ura để chuyển hướng lực tới), hoặc với một đối thủ đã bị đánh rồi và đang quay lại để giữ khoảng cách (có thể một phiên bản omote-waza).

Atemi (当て身) là các miếng đánh được sử dụng trong các đòn Aikido. Một số người coi atemi là các đòn đánh vào các huyệt đạo. Ví dụ, Gōzō Shioda (塩田 剛三 Shioda Gōzō, 1915–1994) đã mô tả việc sử dụng atemi trong một trận hỗn chiến để nhanh chóng hạ gục lưu manh đường phố.[19] Một số khác coi atemi, đặc biệt là vào mặt, là các phương pháp làm mất tập trung đối phương để thực hiện các đòn khác. Một đòn đánh, whether or not it is blocked, can startle the target and break his or her concentration. The target may also become unbalanced in attempting to avoid the blow, for example by jerking the head back, which may allow for an easier throw.[18]

Many sayings about atemi are attributed to Morihei Ueshiba, who considered them an essential element of technique.[20]

Võ sư thực hiện phản đòn với 2 bạn tấn công.

One feature of aikido is training to defend oneself against multiple attackers. Freestyle (randori, or jiyūwaza) practice with multiple attackers is a key part of most curriculae and is required for the higher level ranks. Randori exercises a person's ability to intuitively perform techniques in an unstructured environment. Strategic choice of techniques, based upon how they reposition the student relative to other attackers, is important in randori training. For instance, an ura technique might be used to neutralise the current attacker while turning to face attackers approaching from behind.

In Shodokan Aikido, randori differs in that it is not performed with multiple persons with defined roles of defender and attacker, but between two people, where both participants attack, defend, and counter at will. In this respect it resembles judo randori.[21]

Luyện tập tinh thần[sửa | sửa mã nguồn]

Võ phục và Đai[sửa | sửa mã nguồn]

Võ phục chuẩn dùng trong môn võ Aikido là hakama. Nhưng còn tùy võ đường mà người ta bắt buộc mặc hakama hay cho mặc hakama khi lên huyền đai. Đai chuẩn trong Aikido bắt đầu từ màu trắng, là sơ đẳng. Khi trình độ cao, đai sẽ khác. Từ trắng sẽ thành xanh rồi thành xanh 2 gạch xanh 3 gạch sau đó là đai nâu, nâu 2 gạch nâu 3 gạch rồi cuối cùng thành dai đen

Thảm tatami dùng trong luyện tập:

Aikido ở Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Aikido đôi khi còn được gọi là Hiệp khí đạo, theo nghĩa Hiệp là hòa hợp, Khí là thể của chất, Đạo là con đường, là phương pháp đưa ta tới mục tiêu tối thượng. Aikido được hai ông Đặng Thông Trị và Đặng Thông Phong chính thức truyền bá vào Việt Nam từ năm 1958 [1]. Ông Đặng Thông Phong từng trực tiếp thụ giáo Ueshiba Morihei và được Ueshiba trao ủy nhiệm thư, chính thức ủy quyền cho ông thành lập Tổng cuộc Aikido Tenshinkai để phát triển Aikido tại Việt Nam.[2]

Đến những năm đầu 90, sau hơn 40 năm giới thiệu vào Việt Nam, Aikido chỉ tồn tại ở thành phố HCM. Nỗ lực phát triển Aikido ở các tỉnh khá rời rạc do điều kiện kinh tế, xã hội và giao lưu trao đổi giữa các tỉnh với các võ đường Aikido ở thành phố Hồ Chí Minh.

Trong thời gian từ 1980-1990s, mặc dù không có sự giúp đỡ của Aikido thành phố Hồ Chí Minh, AIKIDO đã có mặt ở nhiều địa phương khác như Huế, Đà Nẵng, Bình Dương, Quảng Trị, Lâm Đồng và một số nơi khác với sự nỗ lực của các võ sư Lê Viết Đắc, Nguyễn Ngọc Thanh, Hoàng Ngọc Hùng, Cao Quảng Loan, Nguyễn Thiện Hữu. Các vị võ sư này đã dày công đào tạo nên các thế hệ võ sư đương đại đang duy trì và phát triển Aikido ở các địa phương.

Gần đây từ năm 2000, Aikido đã được giới thiệu ra Hà Nội, khời đầu với sự hướng dẫn của Võ sư Horizoe Katsumi, 7 Đẳng Aikikai và Philip Châu (một Việt Kiều Pháp) là chuyên gia của Bộ Nông nghiệp, với sự giúp đỡ của các võ sư ở Huế. Hiện tại các CLB này tiếp tục phát triển khá mạnh mẽ.

Mãi đến 2002, sau hơn 40 năm giới thiệu vào Việt Nam, với sự khởi xướng của Aikido Huế, lần đầu tiên Aikido Việt Nam có sự hội ngộ từ 3 miền, đánh mốc lịch sử về sự hiện diện ở khắp 3 miền. Trước mốc lịch sử này, Aikido tồn tại thực sự chỉ ở ngang tầm thành phố, quận huyện, chủ yếu là ở thành phố Hồ Chí Minh. Đây là lần đầu tiên, Aikido được Ủy Ban Thể dục Thể Thao Quốc gia biết đến như một tổ chức. Các đại diện từ ba miền đã lần đầu tiên đặt vấn đề về việc hình thành một tổ chức mang tầm quốc gia.

Tuy nhiên từ năm 2002 đến nay (cuối năm 2009), quá trình vận động hình thành Hội Aikido Việt Nam vẫn chưa hình thành.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Pranin, Stanley (2006). “Aikido”. Encyclopedia of Aikido. 
  2. ^ Pranin, Stanley (2007). “O-Sensei”. Encyclopedia of Aikido. 
  3. ^ a ă Stevens, John; Rinjiro, Shirata (1984). Aikido: The Way of Harmony. Boston, Massachusetts: Shambhala. tr. 3–17. ISBN 978-0394714264. 
  4. ^ Pranin, Stanley (2006). “Ueshiba, Morihei”. Encyclopedia of Aikido. 
  5. ^ Pranin, Stanley. “Morihei Ueshiba and Onisaburo Deguchi”. Encyclopedia of Aikido. 
  6. ^ Omoto-kyo teachings
  7. ^ Pranin, Stanley (2006). “Mochizuki, Minoru”. Encyclopedia of Aikido. 
  8. ^ Homma, Gaku (1990). Aikido for Life. Berkeley, California: North Atlantic Books. tr. 20. ISBN 978-1556430787. 
  9. ^ Homma, Gaku (1990). Aikido for Life. Berkeley, California: North Atlantic Books. tr. 43–45. ISBN 978-1556430787. 
  10. ^ Pranin, Stanley (2006). “Jumbi Taiso”. Encyclopedia of Aikido. 
  11. ^ a ă â Homma, Gaku (1990). Aikido for Life. Berkeley, California: North Atlantic Books. tr. 20–30. ISBN 978-1556430787. 
  12. ^ Aikido and injuries: special report by Fumiaki Shishida Aiki News 1989;80 (April); partial English translation of article in Nihon Budo Gakkai Gakujutsushi (Scientific Journal of Japanese Martial Arts Studies) 1988;21(1)
  13. ^ Pranin, Stanley (1983). “Aikido and Injuries”. Encyclopedia of Aikido. 
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên ADS
  15. ^ Shifflett, C.M. (1999). Aikido Exercises for Teaching and Training. Berkeley, California: North Atlantic Books. ISBN 978-1556433146. 
  16. ^ Ratti, Oscar; Westbrook, Adele (1973). Secrets of the Samurai: The Martial Arts of Feudal Japan. Edison, New Jersey: Castle Books. tr. 23, 356–359. ISBN 978-0785810735. 
  17. ^ Amdur, Ellis. “Irimi”. Aikido Journal. 
  18. ^ a ă Shioda, Gōzō (1968). Dynamic Aikido. Kodansha International. tr. 52–55. ISBN 978-0870113017. 
  19. ^ Shioda, Gōzō; trans. by Payet, Jacques, and Johnston, Christopher (2000). Aikido Shugyo: Harmony in Confrontation. Shindokan Books. ISBN 978-0968779125. 
  20. ^ Scott, Nathan (2000). “Teachings of Ueshiba Morihei Sensei”. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2007. 
  21. ^ Shishido, Fumiaki; Nariyama, Tetsuro (2002). Aikido: Tradition and the Competitive Edge. Shodokan Publishing USA. ISBN 978-0964708327. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]