Giáo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một nữ chiến binh với cây giáo

Giáo là một loại vũ khí lạnh chuyên dùng để đánh tầm xa và thường trang bị cho lực lượng bộ binh trong quân đội, các chiến binh của các bộ lạc, bộ tộc dùng để chiến đấu hoặc săn bắt. Giáo có cấu trúc gồm cán giáo thường làm bằng gỗ và trên cùng là một đầu nhọn, gọi là mũi giáo hay lưỡi giáo hay đầu ngọn giáo. Hoặc cũng có thể giáo là một thanh dài nhưng đầu của nó được mài nhọn hoặc vót nhọn trong trường hợp là giáo bằng gỗ hoặc tre. Thông thường mũi giáo được làm bằng một vật liệu bền, cứng và sắc nhọn được gắn chặt vào cán giáo. Nó có thể là đá có cạnh, đồng, sắt, thép. Một kiểu thiết kế cổ xưa của giáo dùng trong săn bắt là một mũi giáo có hình thoi, hình tam giác hoặc hình và mũi giáo cũng thường có ngạnh hoặc răng cưa. Giáo có chức năng đâm là chính, ngoài ra nó còn có thể ném, phóng tương tự như lao.

Khởi thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo được sử dụng từ thời cổ đại, đặc biệt cho những người tiền sử dùng trong săn bắt, tự vệ các loài dã thú từ khoảng 400.000 năm trước đây. Ban đầu giáo chỉnh là những mảnh đá được cột vào những khúc cây một cách thô sơ. Người Neanderthal được cho là đã sử dụng giáo đá khoảng 300,000 đến 250.000 năm trước. Ban đầu thông dụng là giáo bằng gỗ sau đó con người bắt đầu làm cho lưỡi dao đá tinh xảo thêm với các cạnh của vỡ mảnh được sử dụng như mũi giáo. Lưỡi giáo đá có thể được cố định vào trục giáo bằng những sợi gân, dải da hoặc các loại dây dợ có nguồn gốc từ thực vật. Trong thời gian này, vẫn chưa có sự phân biệt giữa giáo dùng trong săn bắn và giáo chuyên dụng trong chiến đấu.

Trong chiến đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Một chiến binh Cô Dắc

Giáo là một trong những vũ khí cá nhân phổ biến nhất được sử dụng trong thời kỳ đồ đá, và nó vẫn sử dụng như một binh khí quân sự quan trọng và các dụng cụ săn bắn cho đến khi sự ra đời của vũ khí. Giáo có thể được xem như là tổ tiên của vũ khí quân sự như các mâu, Thương, kích, đinh ba, đoản kiếm, thậm chí nó còn ảnh hưởng đến vũ khí quân sự hiện đại ví dụ như súng trường gắn lưỡi lê. Giáo cũng có thể được sử dụng như vũ khí đạn đạo và cận chiến. Giáo được sử dụng chủ yếu để đâm mạnh, người dùng có thể được sử dụng với một hoặc hai tay và nó có xu hướng thiết kế nặng hơn và chắc chắn hơn so với những chiếc lao dùng cho phóng, ném.

Giáo là vũ khí chính của các chiến binh Hi Lạp trong trường ca Iliad của Homer. Việc sử dụng cả hai giáo đâm và giáo ném được đề cập. Trong thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, người Hy Lạp đã phát triển và hình thành một đội hình bộ binh mới, phalanx tức phương trận. Chìa khóa hình thành công đội hình này là bộ binh nặng, được trang bị với một cái khiên lớn tròn, và một cái giáo dài. Đội hình phalanx thống trị chiến tranh giữa các Quốc gia thành bang Hy Lạp trong một thời gian dài. Ở Châu Âu Trung cổ. giáo cũng được sử dụng thông dụng đặc biệt là giáo được cải tiến để sử dụng trên lưng ngựa chiến. Đó là môn đấu thương.

Việt Nam thời cổ, Giáo là vũ khí cổ phổ biến nhất được tìm thấy tại Việt Nam cùng với chiếc rìu trong thời kỳ văn hóa Đông Sơn với nhiều kích thước, hình dạng mũi giáo khác nhau và sau này, giáo là vũ khí phổ biến trang bị cho quân đội trong nhiều triều đại phong kiến. Danh tướng Phạm Ngũ Lão đã có bài Thuật hoài trong đó mỡ đầu bằng câu: "Hoành sóc giang san cáp kỷ xuân thâu/Múa giáo giữ non sông đã mấy thu". Ở Trung Quốc giáo với nhiều biến thể như mâu, thương, kích, đinh ba rất thông dụng trong các cuộc chiến tranh thời kỳ phong kiến, đến tận triều Thanh. Nó là một nội dung của Thập bát ban binh khí ở Trung Quốc và ở Việt Nam. Nhiều danh tướng nổi danh với tài đánh giáo.

Nhật Bản, giáo cũng là vũ khí phổ biến cho bộ binh với mũi giáo dài có thể chém được và cán giáo thường làm bằng kim loại. Một số bộ tộcchâu Phi cũng sử dụng giáo, như người Zulu có thiết kế chiếc giáo ngắn vừa tầm tay nhưng mũi giáo rất to, bè và có thể đâm lẫn chém. Nhiều thổ dân vùng Châu Đại dương cũng có kiểu giáo của họ đó là cây Tao dùng trong cuộc chiến tranh giữa các bộ lạc. Các bộ lạc bản địa người da đỏchâu Mỹ cũng sử dụng giáo như là một vũ khí thông dụng cuả mình trong săn bắt, chiến đấu và nghi lễ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Jill D. Pruetz1 and Paco Bertolani, Savanna Chimpanzees, Pan troglodytes verus, Hunt with Tools", Current Biology, March 6, 2007
  • Lower Palaeolithic hunting spears from Germany. Hartmut Thieme. Letters to Nature. Nature 385, 807 - 810 (27 February 1997); doi:10.1038/385807a0 [1]
  • Rick Weiss, "Chimps Observed Making Their Own Weapons", The Washington Post, February 22, 2007
  • Wymer, John (1982). The Palaeolithic Age. London: Croom Helm. p. 192. ISBN 070992710X.
  • Webster, T.B.L. (1977). From Mycenae to Homer. London: Methuen. pp. 166–8. ISBN 0416705707. Retrieved 15 Feb 2010.
  • Hanson, Victor Davis (1999). "Chapter 2 : The Rise of the City State and the Invention of Western Warfare". The Wars of the Ancient Greeks. London: Cassell. pp. 42–83. ISBN 0304359823.
  • Bishop, M.C.; Coulston J.C. (1989). Roman Military Equipment. Princes Risborough: Shire Publications. ISBN 0747800057.
  • Swanton, M.J. (1973). The Spearheads of the Anglo-Saxon Settlement. London: Royal Archaeological Institute.
  • Fisher, Andrew (1986). William Wallace. Edinburgh: John Donald. p. 80. ISBN 0859761541.
  • Verbruggen, J.F. (1997). The Art of Warfare in Western Europe in the Middle Ages (2nd. ed.). Woodbridge: Boydell Press. pp. 184–5. ISBN 0851156304.
  • Morris, Paul (September 2000). ""We have met Devils!" : The Almogavars of James I and Peter III of Catalonia-Aragon". Anistoriton 004. Retrieved 2009-08-04.
  • Heath, Ian (1993). The Irish Wars 1485-1603. Oxford: Osprey. p. 36. ISBN 9781855322806.
  • Arnold, Thomas (2001). The Renaissance at War. London: Cassel & Co.. pp. 60–72. ISBN 0304352705.
  • Nicholson, Helen (2004). Medieval Warfare. Basingstoke: Palgrave MacMillan. pp. 102–3. ISBN 0333763319.