Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VII

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

‘‘Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VII’’ hay ‘‘Đại hội đại biểu lần VII của Đảng’’ diễn ra từ ngày 24 đến ngày 27-6-1991Hà Nội. Tham dự đại hội có tất cả là 1176 đại biểu chính thức thay mặt cho 2.155.022 đảng viên cả nước.

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VII diễn ra trong bối cảnh đất nước đang thực hiện công cuộcĐổi mới được đề ra từ Đại hội Đảng Cộng Sản Việt Nam VI và đạt được những thắng lợi bước đầu, được nhân dân và quốc tế ủng hộ. tình hình quốc tế và trong nước lúc bấy giờ có nhiều biến chuyển, nhất là sự sụp đổ của khối Đông Âu và cuộc khủng hoảng trầm trọng của Liên Xô[1].

Hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội đã tổng kết đánh giá việc thực hiện đừơng lối đổi mới của đại hội VI, đề ra chủ trương, nhiệm vụ nhằm kế thừa, phát huy những thành tựu, ưu điểm đã đạt được: khắc phục khó khăn, yếu kém mắc phải trong bước đầu đổi mới; ngăn ngừa những lệch lạc phát sinh trong quá trình đó; điều chỉnh bổ sung, phát triển đường lối đổi mới để tiếp tục đưa sự nghiệp đổi mới của đất nước tiến lên[2].

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bản cương lĩnh này được thông qua tại Đại hội VII. Đây chính là tổng thể những điểm chủ yếu về mục đích, đường lối, nhiệm vụ cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kì tiếp tục đi lên đổi mới và xây dựng nền kinh tế thị trường[3].

Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Do đổi mới đang bước đầu thực hiện dù đã đạt nhiều thành tựu nhưng làn sóng đổi mới thái quá trên một số lĩnh vực gây ra nguy cơ chệch hướng đi lên xã hội chủ nghĩa và sự cầm quyền của Đảng. Trước làn sóng bất ổn kinh tế chính trị tại Đông ÂuLiên Xô, sự sụp đổ của Hệ thống Xã hội chủ nghĩa và những bất ổn mới phát sinh trong quá trình đổi mới, Đại hội VII đã thông qua Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 nhằm bình ổn xã hội, phát triển đất nước đưa đất nước thoát ra khỏi khó khăn.

Kế hoạch 5 năm 1991-1995[sửa | sửa mã nguồn]

Xúât phát từ đặc điểm tình hình, căn cứ vào mục tiêu của chặng đừơng đầu htời kì quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Đại hội VII đề ra Kế hoạch 5 năm 1991-1995 và quyết định phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu kinh tế xã hội của Kế hoạch là:

  • Đẩy lùi và kiểm sóat lạm phát
  • ổn định phát triển và nâng cao hiệu quả nền sản xúât xã hội
  • Bước đầu ổn định và từng bước cải thiện đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân lao động.
  • Bắt đầu có tích lũy từ nội bộ nền kinh tế

Hoạt động khác[sửa | sửa mã nguồn]

Thông qua Báo cáo chính trị. Bầu Ban chấp hành Trung ương mới gồm 146 ủy viên chính thức và không có ủy viên dự khuyết, bầu Đỗ Mười làm Tổng Bí thư [4].

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là Đại hội đầu tiên sau khi đất nước đã tiến hành đổi mới[5]. Kế hoạch 5 năm 1991-1995 do Đại hội đề ra đã đạt nhiều thành tựu trên các lĩnh vực của sự nghiệp đổi mới:

  • Nhịp độ phát triển kinh tế cao, những mục tiêu chủ yếu của kế hoạch hoàn thành vượt mức. Tổng sản phẩm trong nước tăng 8,2% /năm. Công nghiệp tăng 13,3% /năm. Sản lượng lương thực tăng 26%. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn. Dịch vụ tăng 80%. Vận tải tăng 62%. Lạm phát từ 67.1% 1991 giảm còn 12.7% 1995.
  • Kinh tế đối ngoại phát triển. xuất khẩu đạt 17 tỉ USD. Nhập khẩu 21 tỉ USD. Có quan hệ buôn bán với hơn 100 nước. nhà nước mở rộng quyền xúât nhập khẩu cho tư nhân. Vốn đầu tư nước ngoài tăng 50% đạy trên 19 tỉ USD.
  • Khoa học công nghệ, văn hóa xã hội phát triển. thu nhập quốc dân tăng và giải quyết được nạn đói.
  • Chính trị xã hội, quốc phòng an ninh được củng cố
  • Mở rộng quan hệ đối ngoại, không còn bị bao vây do đã rút quân khỏi Campuchia từ năm 1988. Bình thừơng quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN năm 1995

Hạn chế và khó khăn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Việt Nam vẫn là nước nghèo. Kinh tế Việt Nam còn mất cân đối, lạc hậu, trình độ kém, thu nhập quốc dân, năng súât còn thấp, đời sống nhân dân khó khăn.
  • Xã hội nảy sinh nhiều hiện tượng tiêu cực tham nhũng, lãng phí, buôn lậu và nhiều tiêu cực còn tồn tại trong nhà nước.
  • Bắt đầu phân hóa giàu nghèo giữa các vùng và các tầng lớp dân cư.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Giới thiệu về Đại hội VII trên Web Đảng Cộng Sản Việt Nam
  2. ^ Lịch sử 12 Nâng cao, NXB Giáo dục, trang 280
  3. ^ Đại cương lịch sử Việt Nam, Tập 3, NXB Giáo dục
  4. ^ Giới thiệu Danh sách Ban chấp hành trung ương được bầu từ Đại hội VII trên Website Đảng Cộng Sản Việt Nam
  5. ^ [htttp://www.cpv.org.vn/tiengviet/tulieuvankien Văn kiện Đại hội VII]

Xem Thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập 3, NXB Giáo dục

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội VII trên Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam Danh sách Ban chấp hành trung ương Đại hội VII trên Báo điện tử Đảng Cộng Sản Việt Nam

Việt Nam Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam Communist Party of Vietnam flag.svg

1935 | 1951 | 1960 | 1976 | 1982 | 1986 | 1991 | 1996 | 2001 | 2006 | 2011| 2016|