Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đại hội Đại biểu Toàn quốc
Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI
Communist Party of Vietnam flag.svg
Đảng kỳ
Địa điểm Hội trường Ba Đình (Hà Nội)
Thời gian Từ 15/12 đến 18/12/1986
Tên gọi khác Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam
Tham gia 1.129 đại biểu chính thức
Hậu quả Bầu Ban Chấp hành gồm 173 người
(chính thức: 124, dự khuyết: 49),
Nguyễn Văn Linh đắc cử Tổng Bí thư
Trang Web Trang web chính thức ĐCSVN về ĐH11

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI họp từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 12 năm 1986 tại Hà Nội (họp trù bị từ ngày 5 đến ngày 14 tháng 12 năm 1986). Dự đại hội có 1.129 đại biểu thay mặt cho 2.027.638 đảng viên cả nước, 35 đoàn đại biểu của các Đảng và các tổ chức quốc tế.

Bối cảnh lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI diễn ra trong bối cảnh sai lầm của đợt tổng cải cách giá - lương - tiền cuối năm 1985 làm cho kinh tế Việt Nam càng trở nên khó khăn (tháng 12 năm 1986, giá bán lẻ hàng hóa tăng 845,3%). Việt Nam đã không thực hiện được mục tiêu đề ra là cơ bản ổn định tình hình kinh tế - xã hội, ổn định đời sống nhân dân. Số người bị thiếu đói tăng, bội chi lớn. Nền kinh tế Việt Nam lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Tình hình này làm cho trong Đảng Cộng Sản Việt Nam và ngoài xã hội có nhiều ý kiến tranh luận xoay quanh ba vấn đề lớn:

  • Cơ cấu sản xuất
  • Cải tạo xã hội chủ nghĩa
  • Cơ chế quản lý kinh tế

Các nguyên nhân chính của khủng hoảng:

  • Chủ quan, nóng vội trong con đường đi lên chủ nghĩa xã hội
  • Áp dụng mô hình xây dựng chủ nghĩa xã hội bao cấp
  • Công nghiệp hoá theo lối giản đơn - tập trung vào công nghiệp nặng

Hoạt động của Đại hội[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội đã thảo luận và thông qua Nghị quyết về các văn kiện như: Báo cáo chính trị; Phương hướng, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 1986 - 1990; Báo cáo về bổ sung điều lệ Đảng.

Đại hội đã đánh giá những thành tựu những khó khăn của Việt Nam do cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội tạo ra. Những sai lầm kéo dài của Đảng về chủ trương, chính sách lớn về chỉ đạo chiến lược và tổ chức thực hiện khuynh hướng tư tưởng chủ yếu của nhũng sai lầm đó, đặc biệt sai lầm về kinh tế là bệnh chủ quan duy ý chí, lối suy nghĩ về hành động đơn giản, nóng vội chạy theo nguyện vọng chủ quan là khuynh hướng trong buông lỏng quản lý kinh tế, xã hội, không chấp hành nghiêm chỉnh đường lối nguyên tắc của Đảng đó là tư tưởng vừa tả khuynh vừa hữu khuynh.

Đại hội đã thông qua bản Điều lệ Đảng đã sửa đổi và bầu Ban Chấp hành trung ương khóa VI gồm 124 ủy viên chính thức và 49 ủy viên dự khuyết. Ban Chấp hành Trung ương Đảng bầu Bộ Chính trị gồm 13 ủy viên chính thức, 1 ủy viên dự khuyết. Ông Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư của Đảng.

Báo cáo chính trị[sửa | sửa mã nguồn]

Báo cáo chính trị nêu ra bốn bài học kinh nghiệm lớn. Báo cáo xác định nhiệm vụ bao trùm, mục tiêu tổng quát trong 5 năm còn lại của chặng đường đầu tiên là ổn định mọi mặt tình hình kinh tế - xã hội, tiếp tục xây dựng những tiền đề cần thiết cho việc đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa trong chặng đường tiếp theo.

  1. Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc".
  2. Đảng phải luôn xuất phát từ thực tế, tôn trọng và hành động theo qui luật khách quan.
  3. Phải biết kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong điều kiện mới.
  4. Chăm lo xây dựng Đảng ngang tầm với một đảng cầm quyền lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa.

Mục tiêu kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Mục tiêu cự thể cho những năm còn lại của chặng đường đầu tiên:

  • Sản xuất đủ tiêu dùng và có tích lũy.
  • Bước đầu tạo ra cơ cấu kinh tế hợp lý nhằm phát triển sản xuất
  • Xây dựng và hoàn thiện một bước quan hệ sản xuất mới phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
  • Tạo chuyển biến tốt về mặt xã hội
  • Bảo đảm nhu cầu củng cố quốc phòng và an ninh.

Đổi mới[sửa | sửa mã nguồn]

Đổi mới ở đây không phải là thay đổi mục tiêu chủ nghĩa xã hội mà được hiểu là thay đổi cách thức để đạt được mục tiêu chủ nghĩa xã hội.

Đổi mới về kinh tế
  • Xóa bỏ kinh tế bao cấp, thực hiện cơ cấu kinh tế nhiều thành phần
  • Đổi mới về cơ chế quản lý kinh tế: cơ chế kế hoạch hóa theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa.
  • Đổi mới về nội dung và cách thức công nghiệp hóa, thực hiện 3 chủ trương kinh tế:
    • Sản xuất lương thực, thực phẩm
    • Sản xuất hàng tiêu dùng
    • Sản xuất hàng xuất khẩu.
Đổi mới về chính trị
  • Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng, đổi mới quản lý và điều hành của nhà nước cho phù hợp với cô cấu và cơ chế kinh tế mới.
  • Đổi mới về quan hệ hợp tác quốc tế theo hướng mở, kêu gọi hợp tác và đầu tư nước ngoài.

Bộ Chính trị và Ban Bí thư Ban Chấp hành Trung ương khóa VI[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng Bí thư
Nguyễn Văn Linh
Bộ Chính trị
  • Ủy viên chính thức:
  1. Nguyễn Văn Linh
  2. Phạm Hùng
  3. Võ Chí Công
  4. Đỗ Mười
  5. Võ Văn Kiệt
  6. Lê Đức Anh
  7. Nguyễn Đức Tâm
  8. Nguyễn Cơ Thạch
  9. Đồng Sỹ Nguyên
  10. Trần Xuân Bách
  11. Nguyễn Thanh Bình
  12. Đoàn Khuê
  13. Mai Chí Thọ
  14. Đào Duy Tùng (từ tháng 5-1988)
  • Ủy viên dự khuyết
  1. Đào Duy Tùng (đến tháng 5-1988)
Ban Bí thư
  1. Nguyễn Văn Linh
  2. Nguyễn Đức Tâm
  3. Trần Xuân Bách
  4. Đào Duy Tùng
  5. Trần Kiên
  6. Lê Phước Thọ
  7. Nguyễn Quyết
  8. Đàm Quang Trung
  9. Vũ Oanh
  10. Nguyễn Khánh
  11. Trần Quyết
  12. Trần Quốc Hương
  13. Phạm Thế Duyệt
  14. Nguyễn Thanh Bình (bổ sung từ tháng 10-1988)

Ý nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam VI đã tìm ra lối thoát cho cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội, thể hiện quan điểm đổi mới toàn diện đất nước, đặt nền tảng cho việc tìm ra con đường thích hợp đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Những chủ trương, chính sách mới đã gợi mở, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, giải phóng năng lực sản xuất của xã hội để mở đường cho phát triển sản xuất.

Hạn chế[sửa | sửa mã nguồn]

  • Sở hữu đất đai;
  • Sức lao động.

Hạn chế của Đại hội lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam là chưa tìm ra những giải pháp hiệu quả, tháo gỡ tình trạng rối ren trong phân phối lưu thông. Sau Đại hội, khủng hoảng kinh tế - xã hội của Việt Nam vẫn diễn ra nghiêm trọng.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giáo trình Lịch sử Đảng Cộng Sản Việt Nam

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Việt Nam Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam Communist Party of Vietnam flag.svg

1935 | 1951 | 1960 | 1976 | 1982 | 1986 | 1991 | 1996 | 2001 | 2006 | 2011| 2016|