AGM-45 Shrike

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
AGM-45 Shrike Anti-Radiation Missile
AGM-45 được bắn bởi một máy bay A-4 Skyhawk
Chức năng chính: Tên lửa chống bức xạ phát hiện và tiêu diệt các rada chống máy bay của đối phương.
Bộ phận đẩy: rocket nhiên liệu rắn
Chiều dài: 10 ft (3,05 m)
Trọng lượng: 390 lb (177,06 kg)
Đường kính: 8 in (203 mm)
Đầu đạn: Thông thường
Sải cánh: 3 ft (914 mm)
Dẫn hướng: Ra đa bị động
Máy bay: A-4 Skyhawk, A-6 Intruder F-105 Thunderchief
Trị giá: $32.000

AGM-45 Shriketên lửa chống bức xạ của Mỹ được thiết kế để tiêu diệt các ra đa chống máy bay của đối phương. Shrike được phát triển bởi Trung tâm Vũ khí Hải quân của Hoa Kỳ năm 1963 bởi việc sử dụng một bộ tìm kiếm vào thân của rốc két AIM-7 Sparrow. Nó được rút dần khỏi trang bị của Hoa Kỳ từ năm 1992 và thay thế cho nó là loại tên lửa AGM-88 HARM.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Shrike được sử dụng lần đầu vào năm 1965 trong cuộc Chiến tranh Việt Nam bởi Hải quân Hoa Kỳ. Các máy bay đã phóng tên lửa loại này là F-105FF-105G Thunderchief và sau đó là loại F-4 Phantom II. Tầm bắn của nó ngắn hơn loại tên lửa SA-2 Guideline.

Tính năng[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]