Binh chủng Nhảy dù Việt Nam Cộng hòa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


Binh chủng Nhảy Dù
Vietnamese Airborne Division 's Insignia.svg
Huy hiệu.
Hoạt động 1955–1975
Quốc gia  Việt Nam Cộng hòa
Phân loại Lực lượng vũ trang
Tên khác Thiên thần mũ đỏ dù hoa
Khẩu hiệu Thiên thần sát Cộng
Màu sắc Vàng, đỏ, đen
Tham chiến Trận Mậu Thân
Chiến dịch Campuchia
Mùa hè đỏ lửa
Các tư lệnh
Chỉ huy
nổi tiếng
Đỗ Cao Trí

Nguyễn Văn Vỹ
Cao Văn Viên
Nguyễn Khánh
Dư Quốc Đống
Nguyễn Chánh Thi
Nguyễn Khoa Nam
Đoàn Văn Quảng
Lê Quang Lưỡng

Sư đoàn Nhảy dù Quân lực Việt Nam Cộng hòa - hay Binh chủng Nhảy Dù (tiếng Anh: Vietnamese Airborne Division, VNAD) - là một đơn vị chính quy trực thuộc Không lực Việt Nam Cộng hòa, có lịch sử thành lập sớm nhất và cũng được xem là lực lượng thiện chiến nhất của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Sau này là một Sư đoàn tác chiến độc lập và trở thành đơn vị Tổng trừ bị trực thuộc Bộ Tổng tham mưu.

Lược sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Một áp-phích tổng động viên thời Quốc gia Việt Nam.

Vào ngày 1/1/1948 đơn vị Nhảy Dù Việt Nam đầu tiên là Đại đội 1 Nhảy Dù Dông Dương [1ere Compagnie Indochinoise Parachutiste - CIP] được thành lập, Đại đội trưởng người Pháp là Đại úy Grillet-Paysan. Liền sau đó là các Đại đội Nhảy Dù Đông Dương 2, 3, 5 và Đại đội ND Lê Dương [Compagnie Indochinoise Parachutiste Légion Etrangère]. Chỉ huy phần lớn là người Pháp, có duy nhất Đại đội 3 Nhảy Dù Đông Dương (3ème CIP nguyên Compagnie Tonkinoise Parachutiste, hay còn mệnh danh là Compagnie Vỹ) do Đại úy Nguyễn Văn Vỹ thành lập và chỉ huy từ tháng 5 năm 1948. Thiếu úy Đoàn Văn Quảng là vị Trung đội trưởng người Việt duy nhất trong Đại đội này. Mỗi một đại đội này được biệt phái làm đại đội thứ 4 cho mỗi các Tiểu đoàn 1, 2, 3 và 5 Biệt Kích Nhảy Dù Thuộc địa Pháp (BCCP - Bataillon Colonial de Commandos Parachutistes) và Tiểu đoàn1 ND Lê Dương (1er BEP). Năm 1949 Đại đội Nhảy Dù Liên Đoàn Phòng vệ Nam Việt ["Escadron Parachutiste Garde du Việt Nam Sud - EPGVNS'] được thành lập tại Thủ Đức, là một đơn vị biệt lập xuất nguồn từ Liên Đoàn Phòng Vệ Cộng Hoà Nam Việt (Garde Répubiique de Cochinchine). Đại úy Richard thành lập và chỉ huy, đến tháng 6 năm 1951 Trung úy Nguyễn Khánh từ Trung đoàn Ngự Lâm Quân chuyển về làm Đại đội Phó.Thiếu úy Đỗ Cao Trí là một trong các trung đội trưởng.

Ngày 1/8/1951 Tiểu đoàn 1 Nhảy Dù Việt Nam được thành lập tại Chí Hòa, Sài Gòn từ Đại đội 1 Nhảy dù và Đại đội ND Phòng vệ Nam Việt. Tiểu đoàn có 2 trung tâm huấn luyện tại căn cứ Tân Sơn Nhất, Sài Gòn và tại phi trường Bạch Mai, Hà Nội. Lần lượt tiếp theo sau đó các Tiểu đoàn Dù số 3, 4, 5, 7 và 6 được thành lập trong thời gian 1952-1954.

Ngày 29/9/1954 Pháp bàn giao quân đội lại cho chính phủ Việt Nam. Liên đoàn Nhảy dù được thành lập từ 4 Tiểu đoàn 1, 3, 5 và 6. Tiểu đoàn 4 đã bị giải tán trước đó do bị thiệt hại nặng trong một trận chiến. Tiểu đoàn 7 bị giải tán để lấy quân số bổ sung cho Bộ chỉ huy, các tiểu đoàn khác và các đơn vị yễm trợ. Chỉ huy trưởng Liên đoàn Dù là Thiếu tá Đỗ Cao Trí. Liên đoàn có khoảng 4.000 người gồm Bộ chỉ huy, các Tiểu đoàn 1, 3, 5, 6 và Tiểu đoàn Trợ chiến (Quân y, Công Binh, Kỹ thuật và Súng cối mỗi một Đại đội, Truyền tin 1 phân đội và Tiếp tế thả dù 1 Trung đội). Đến giữa năm 1955 toàn bộ Liên đoàn đã đóng quân tại Sài Gòn, Trung tâm Huấn luyện Nhảy Dù cũng được thành lập tại căn cứ Tân Sơn Nhất.

Ngày 1/9/1956 Trung tá Nguyễn Chánh Thi thay thế Đại tá Đỗ Cao Trí nhận chức vụ Chỉ huy trưởng. Năm 1959 liên đoàn cải danh thành Lữ đoàn Nhảy dù. Ngày 12/11/1960 Trung tá Cao Văn Viên được cử giữ chức vụ Chỉ huy trưởng Lữ đoàn, thay thế Đại tá Nguyễn Chánh Thi tham gia đảo chính bất thành.

Năm 1961 Tiểu đoàn 7 và Tiểu đoàn 8 Nhảy Dù được thành lập. Năm 1962 Liên đoàn Nhảy Dù tổ chức thành 2 Chiến đoàn Nhảy Dù. Thiếu tá Dư Quốc Đống là Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 1 gồm các Tiểu đoàn 1, 3 và 8, đóng tại căn cứ Hoàng Hoa Thám. Thiếu tá Đỗ Kế Giai là Chiến đoàn trưởng Chiến đoàn 2 gồm các tiểu đoàn 5, 6 và 7, đóng tại Tam Hiệp, Biên Hòa.

Quân kỳ của lực lượng Nhảy Dù.

Năm 1964 đại tá Cao Văn Viên được đặc cách thăng Thiếu tướng ngay tại mặt trận sau chiến thắng Hồng Ngự, bổ nhiệm về Bộ Tổng Tham mưu, Trung tá Dư Quốc Đống lên giữ chức vụ Tư lịnh Lữ đoàn Nhảy Dù.

Giữa năm 1965 Tiểu đoàn 2, Tiểu đoàn 9 Nhảy Dù và Tiểu đoàn Pháo binh được thành lập. Đơn vị Quân y được nâng cấp thành Tiểu đoàn Quân y.

Ngày 1/12/1965 Lữ đoàn Nhảy Dù đổi thành Sư đoàn Nhảy Dù. (Bộ Tư lệnh Sư đoàn được đặt tại trại Hoàng Hoa Thám, Tân Bình, Gia Định). Các Chiến đoàn 1 và 2 đổi tên thành Lữ đoàn, do Trung tá Hồ Trung Hậu (Lữ đoàn 1) và Trung tá Đào Văn Hùng chỉ huy (Lữ đoàn 2). Lữ đoàn 3 Nhảy Dù được thành lập, Trung tá Nguyễn Khoa Nam là Lữ đoàn trưởng.

Lính dù Hoàng Ngọc Giao (trực thuộc Tiểu đoàn 5) chuẩn bị thực hiện một phi vụ nhảy toán.

Tiểu đoàn 11 Nhảy dù được thành lập năm 1967. Tiểu đoàn Yểm trợ KBC 4759 (Tiền thân là Tiểu đoàn Trợ chiến) được thành lập ngày 1/11/1968, có 6 Đại đội là: Đại đội Chỉ huy và Công vụ, Đại đội kỹ thuật, Đại đội Tài chính, Đại đội Vận tải, Đại đội Tiếp liệu, Đại đội Bảo trì và 4 Phân đội Tiếp vận Hành quân, yểm trợ với 4 Lữ đoàn tác chiến. Đồn trú trong Căn cứ Hoàng Hoa Thám. Tiểu đoàn trưởng đầu tiên là Trung tá Tống Hồ Hàm. Tiểu đoàn trưởng cuối cùn là Thiếu tá Võ Văn Thu.

Năm 1968, Sư đoàn Dù đã hoàn chỉnh với 3 Lữ đoàn gồm 9 Tiểu đoàn tác chiến, 3 Đại đội Trinh sát và 3 Tiểu đoàn Pháo binh.

Đầu năm 1974, thành lập Lữ đoàn 4 với các Tiểu đoàn trực thuộc tân lập gồm : 3 Tiểu đoàn 12, 14 và 15. Đồng thời thành lập thêm 3 Tiểu đoàn biệt lập trực thuộc Bộ Tư lệnh Sư đoàn: Tiểu đoàn 16, 17 và 18.

Sư đoàn Nhảy dù là một đơn vị tinh nhuệ và thiện chiến của Quân lực Việt Nam Việt Nam Cộng hoà. Là đơn vị Tổng trừ bị, đặt dưới quyền điều động trực tiếp của Bộ Tổng Tham mưu. Quân nhân trong Sư đoàn từ binh sĩ đến sĩ quan đều là thành phần tình nguyện sau khi mãn khoá quân trường. Tuy nhiên, vẫn phải qua một quá trình tuyển chọn rất kỹ lưỡng mới được gia nhập vào binh chủng. Được huấn luyện nhẩy dù và ôn tập tác chiến rất chu đáo, trang bị vũ khí tối tân.

Là một đơn vị cơ động trên 4 vùng chiến thuật từ Bến Hải cho tới Cà Mau. Luôn kịp thời sát cánh cùng các đơn vị bạn ở bất cứ mặt trận nào và luôn luôn là nhân tố giải quyết nhanh chóng cục diện trận chiến.

Năm 1971, Sư đoàn Nhảy dù đã tham gia Chiến dịch Lam Sơn 719, do nhà cầm quyền tại Sài Gòn chủ quan, khinh địch, khăng khăng yêu cầu quân dù phải đánh đến Sê pôn rồi về nên đã bị Sư đoàn 320A của Quân đội Nhân dân Việt Nam tiêu diệt mất Lữ đoàn 3 và bắt sống Lữ trưởng Nguyễn Văn Thọ. Quân dù bị đánh thiệt hại rất nặng trong chiến dịch này.

Năm 1972, sau Mùa hè đỏ lửa Chuẩn tướng Lê Quang Lưỡng giữ chức vụ Sư đoàn trưởng. Đầu năm 1974 Lữ đoàn 4 Nhảy Dù được thành lập, Trung tá Lê Minh Ngọc là Lữ đoàn trưởng. Ngày 20 tháng 4 năm 1975, Lữ đoàn phó là Trung tá Nguyễn Đình Ngọc lên thay và chỉ huy Lữ đoàn 4 phòng thủ Sài Gòn.

Năm 1974, tiểu đoàn 1 Nhảy dù đã cùng với Sư đoàn 3 Bộ binh ráng chiếm lại Thượng Đức, một tiền đồn quan trọng của Việt Nam Cộng Hòa đã bị Sư đoàn 304 Bắc Việt đánh chiếm trước đó. Mặc dù tấn công ác liệt các cứ điểm nhưng không tái chiếm được và chịu thiệt hại nên từ đây trong con mắt lão luyện chiến trận của đối phương, khối chủ lực của Việt Nam Cộng Hòa đã yếu hơn Bắc Việt, một bước ngoặt về tương quan lực lượng giữa hai phía.

Năm 1975, để cản Quân đội Nhân dân Việt Nam tràn xuống đồng bằng sau khi Ban Mê Thuột thất thủ, Lữ đoàn 3 Nhảy dù đã được điều từ Vùng 1 Chiến thuật vào giữ đèo Phụng Hoàng. Đối thủ của Lữ đoàn 3 Nhảy dù lúc này là Sư đoàn 10 Đoàn Đắc Tô vừa tiêu diệt các trung đoàn 44, 45, 53 thuộc Sư đoàn 23 Bộ binh ở Nông Trại, Phước An và sân bay Hòa Bình, phía đông Ban Mê Thuột. Lữ đoàn 3 Nhảy dù đã đánh đến khi bị tiêu diệt hoàn toàn.

Cùng với việc Lữ đoàn 3 Nhảy dù được gửi đến đèo Phụng Hoàng, Lữ đoàn 1 và 2 Nhảy dù được điều về bảo vệ Sài Gòn. Trước bước tiến ào ạt của Quân đội Nhân dân Việt Nam, các đơn vị này đã tham gia trận đánh nổi tiếng bên cạnh Sư đoàn 18 Bộ binh, Lữ đoàn 81 Biệt kích dù tại Xuân Lộc, đánh trả Quân đoàn 4 gồm các Sư đoàn 341, 6, 7 của Cộng sản.

Những người lính dù còn lại đã về Sài Gòn khi cánh cửa thép Xuân Lộc không thể cản bước tiến của đối phương. Họ đã chiến đấu với Sư đoàn 325 Bắc Việt đến cùng và chỉ dừng lại khi Đại tướng Dương Văn Minh ra lệnh buông súng ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Đơn vị trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến tháng 4/1975 Sư đoàn Nhảy dù tổ chức như sau:

  • Ngoài Bộ Tư lệnh Sư đoàn còn các đơn vị tác chiến và yểm trợ
  • *Bộ chỉ huy
  • **Từ BCH Tổng hành dinh đến BCH Pháo binh là những đơn vị yểm trợ
TT Đơn vị Chú thích TT Đơn vị Chú thích
1
Lữ đoàn 1
Gồm có: Các Tiểu đoàn tác chiến 1, 8 và 9. Đai đội 1 Trinh sát
10
Ban Quân nhạc
2
Lữ đoàn 2
Gồm có: Các Tiểu đoàn tác chiến 5, 7 và 11. Đại đội 2 Trinh sát
11
Tiểu đoàn Quân y
3
Lữ đoàn 3
Gồm có: Các Tiểu đoàn tác chiến 2, 3 và 6. Đại đôi 3 Trinh sát
12
Tiểu đoàn Truyền tin
4
Lữ đoàn 4
Gồm có: các Tiểu đoàn tác chiến 12, 14 và 15. Đại đội 4 Trinh sát
13
Tiểu đoàn Yểm trợ
Gồm 6 Đại đội: Chỉ huy & Công vụ, Tài chính, Vận tải, Tiếp liệu, Kỹ thuật, Bảo trì và các Phân đội yểm trợ hành quân cho 4 Lữ đoàn
5
Các Tiểu đoàn Biệt lập
Gồm có: Tiểu đoàn 16, 17 và 18
14
BCH

Trung tâm Huấn luyện Sư đoàn

6
BCH* Tổng hành dinh**
15
Tiểu đoàn Huấn luyện

Quân trường

Vương Mộng Hồng

7
Đại đội Quân cảnh 204
16
Khối Bổ sung Sư đoàn
8
Đại đội Thám báo
Dưới quyền điều động trực tiếp của Tư lệnh Sư đoàn
17
Bệnh viện Đỗ Vinh**
9
Biệt đội Tác chiến Điện tử
18
BCH Pháo binh
Gồm có: Tiểu đoàn 1, 2, 3 và 4 Pháo 105ly

Phối thuộc với 4 Lữ đoàn tác chiến

Bộ Tư lệnh Sư đoàn & các Lữ đoàn tháng 4/1975[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chức danh Chỉ huy & Tham mưu sau cùng:
TT Cấp bậc Họ & Tên Chức vụ Chú thích
1
Chuẩn tướng
Lê Quang Lưỡng
Tư lệnh
2
Đại tá
Trương Vĩnh Phước

SQ Thủ Đức K4

Tư lệnh phó
3
nt
Văn Bá Ninh
Tham mưu trưởng
4
Trung tá
Nguyễn Văn Đỉnh

Võ bị Đà Lạt K15

Lữ đoàn trưởng

Lữ đoàn 1

Tiểu đoàn: 1, 8 và 9
Tiểu đoàn trưởng:
Thiếu tá Ngô Tùng Châu TĐ 1
Thiếu tá Nguyễn Viết Thanh TĐ 8 (ĐL K18)
Thiếu tá Lê Mạnh Đường TĐ 9
5
nt
Đào Thiện Tuyển

Võ bị Đà Lạt K14

nt

Lữ đoàn 2

Tiểu đoàn: 5, 7 và 11
Tiểu đoàn trưởng:
Thiếu tá Võ Trọng Em TĐ 5
Trung tá Nguyễn Lô TĐ 7 (ĐL K 18)
Thiếu tá Nguyễn Văn Thành TĐ 11
6
nt
Trần Đăng Khôi

Võ bị Đà Lạt K16

nt

Lữ đoàn 3

Tiểu đoàn: 2, 3 và 6
Tiểu đoàn trưởng:
Thiếu tá Trần Công Hạnh TĐ 2 (ĐL K20)
Thiếu tá Lã Quý Trang TĐ 3
Thiếu tá Trần Tấn Hoà TĐ 6 (ĐL K20)
7
nt
Lê Minh Ngọc

Võ bị Đà Lạt K16

nt

Lữ đoàn 4

Tiểu đoàn: 12, 14 và 15
Tiểu đoàn trưởng:
Thiếu tá Nguyễn Văn Nghiêm TĐ 12 (ĐL K20)
Thiếu tá Nguyễn Đức Tâm TĐ 14
Thiếu tá Nguyễn Văn Phú TĐ 15
8
Đại tá
Nguyễn Văn Tường

SQ Thủ Đức K4

CHT Pháo binh
Tiểu đoàn trưởng:
Thiếu tá Nguyễn Bá Trí TĐ 1
Thiếu tá Nguyễn Văn Thông TĐ 3 (ĐĐ K1)
Thiếu tá Đặng Hữu Minh TĐ 4
9
Tiểu đoàn Biệt lập
Tiểu đoàn trưởng:
Trung tá Phạm Kim Bằng TĐ 16 (ĐL K16)
Thiếu tá Hồng Thu TĐ 17
Thiếu tá Lê Hữu Chí TĐ 18

Tư lệnh Sư đoàn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kể từ ngày thành lập đến sau cùng, trải qua 5 vị Tư lệnh
  • *Cấp bậc khi nhậm chức
TT Cấp bậc* Họ & Tên Tại chức Chú thích
1
Thiếu tá
Đỗ Cao Trí

SQ Nước Ngọt VT

10/1954-09/1956
Chỉ huy trưởng đầu tiên Liên đoàn. Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn III, năm 1971 tử nạn trực thăng khi đang bay thị sát chiến trường miền đông (bầu trời Tây Ninh). Được truy thăng Đại tướng''
2
Trung tá
Nguyễn Chánh Thi

Võ bị ĐP Vũng Tàu

09/1956-11/1960
Tư lệnh Lữ đoàn (1959). Cầm đầu cuộc đảo chính 11/11/1960, thất bại sang Campuchia tỵ nạn. Đến cuộc đảo chính 1/11/1963 thành công, được trở về tiếp tục phục vụ quân đội. Sau cùng là Trung tướng Tư lệnh Quân đoàn I. Liên quan đến vụ biến động miền trung năm 1966, giải ngũ và lưu vong tại hải ngoại cùng năm
3
nt
Cao Văn Viên

Võ bị ĐP Vũng Tàu

11/1960-09/1964
Sau đảo chính 1/11/1963 bị ngưng chức Tư lệnh Lữ đoàn Dù 1 tuần. Sau cùng là Đại tướng Tổng tham mưu trưởng Bộ Tổng tham mưu. Ngày 27/4/1975 giải ngũ.
4
Đại tá
Dư Quốc Đống

Võ bị Đà Lạt K5

09/1964-11/1972
Tư lệnh Sư Đoàn (1965). Sau cùng là Trung tướng phụ tá Tổng tham mưu trưởng''
5
Chuẩn tướng
Lê Quang Lưỡng

SQ Thủ Đức K4

11/1972-04/1975
Tư lệnh sau cùng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]