Lưu Tống Vũ Đế
| Bài viết này cần thêm chú thích để kiểm tra được tính xác thực. Hãy giúp hoàn thiện bài này bằng cách bổ sung các nguồn tham khảo tin cậy. Các nội dung không rõ nguồn có thể bị nghi ngờ và xóa bỏ. (September 2010) |
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
Lưu Tống Vũ Đế (363 - 422), miếu hiệu là Cao Tổ, tên là Lưu Dụ (劉裕), tự Đức Dư (德輿). Ông còn có một tên gọi khác là Đức Hưng (德興), tên lúc nhỏ là Kí Nô (寄奴)[1]. Nguyên quán ở làng Tuy Dư, huyện Bành Thành (nay thuộc huyện Đồng Sơn, thành phố Từ Châu, tỉnh Giang Tô), nhưng sinh ra tại làng Kinh Khẩu, huyện Đan Đồ, quận Tấn Lăng, Nam Từ Châu[1]. Trong thời gian trị vì (420-422) có 1 niên hiệu là Vĩnh Sơ. Ông là vị hoàng đế đầu tiên của triều đại Lưu Tống.
Mục lục |
Bối cảnh gia đình [sửa]
Lưu Dụ sinh vào ngày Nhâm Dần, tháng 3 âm lịch năm Hưng Ninh thứ 1 thời Tấn Ai Đế (năm 363)[1] tại Kinh Khẩu (nay thuộc Trấn Giang, tỉnh Giang Tô), con trai của Lưu Kiều và Triệu An Tông. Tống thư chép rằng ông là hậu duệ đời thứ 21 của Sở vương Lưu Giao, em Hán Cao Tổ Lưu Bang[1], thực tế xuất thân của ông khá mơ hồ theo như ghi chép trong Đảo di Lưu Dụ truyện trong Ngụy thư của Ngụy Thâu người Bắc triều biên soạn[2]. Nguồn gốc họ của Lưu Dụ cho đến nay vẫn chưa được xác định rõ ràng. Nguyên quán của ông sử sách ghi chép đến 2 nơi, ông cố Lưu Hỗn (劉混) vốn từ Bành Thành (nay thuộc Từ Châu, Giang Tô), đã chuyển đến làng Tuy Dư và Kinh Khẩu để tránh chiến loạn vùng Hoa Bắc.
Cha ông vốn xuất thân nhà nghèo, còn mẹ ông là một tiểu thư giàu sang. Hai người kết hôn vào năm 360, sau đó, Triệu An Tông (mẹ của Lưu Dụ) đã chết ngay khi hạ sinh ông. Lúc sinh Lưu Dụ có một vầng sáng kỳ quái chiếu vào trong phòng, cha ông cho đó là điềm lành, nghĩ rằng đứa trẻ mới sinh sau này tất sẽ được làm vua, nên đặt tên cho ông là Dụ "裕" (nghĩa là giàu có). Vì cha của ông quá nghèo, không thể nuôi được ông, nên Lưu Dụ đã được người cô ruột của mình nuôi thay. Sau đó, cha của Dụ đã lấy một người vợ khác, tên là Tiêu Văn Thọ, sinh ra 2 đứa con khác là Lưu Đạo Liên và Lưu Đạo Quy. Tuy mặc dù đây là bà mẹ kế, nhưng tính tình hiền hậu, nên Lưu Dụ luôn kính yêu bà như mẹ ruột của mình, ngoài ra ông còn có một người anh em họ sống kế bên là Lưu Hoài Túc làm hầu huyện Đông Hưng, giữ chức Tả tướng quân của nhà Đông Tấn cư trú ở làng An Thượng huyện Bành Thành . Khi Lưu Dụ trưởng thành, thì cha của ông mất. Ông là một chàng thanh niên khỏe mạnh, vạm vỡ, dũng cảm, nhưng lại nghèo, ít học. Trong thuở hàn vi như vậy, ông sinh sống bằng nghề bán giày rơm. Nhưng tật xấu của ông là thích đánh bạc. Sau đó, ông tham gia tòng quân, trở thành một tay sai nha dưới trướng Tôn Vô Chung (孫無終) trong quân Bắc Phủ nhà Đông Tấn (theo Vũ Đế bản kỷ trong Tống thư).
Dẹp loạn Tôn Ân [sửa]
Năm 399, một người là Tôn Ân (孫恩) cùng Lư Tuần (卢循) và 27 người là tín đồ Ngũ Đấu Mễ Đạo nổi dậy khởi nghĩa ở Cối Kê chống chính quyền nhà Tấn. Nhà Tấn phái Tiền tướng quân Lưu Lao Chi (劉牢之) đi về hướng đông trấn áp loạn quân. Lưu Dụ đi theo quân Bắc Phủ của Lưu Lao Chi chinh chiến, lập được nhiều công lao, ông kết thân với người con trai của Lao Chi là Lưu Kính Tuyên (劉敬宣) và được Lưu Lao Chi cho tham gia bàn việc quân. Trong quân Bắc Phủ, Lưu Dụ tỏ ra là một người có tài đồng thời được Kính Tuyên tin cậy nên được cất nhắc làm tướng. Lúc đó quân của Lưu Lao Chi đang nắm giữ Giang Tô và Chiết Giang, ngoại trừ thành Kiến Khang. Năm 399,Tôn Ân rút ra đảo Chu Sơn, đến năm 402 tiến hành phản công đánh Hải Diêm (nay thuộc Gia Hưng, Chiết Giang), Lưu Dụ chống lại và chiến thắng mặc dù quân số của ông ít hơn. Vì vậy mà ông sớm được thăng chức lên Võ tướng quân, Thái thú Hạ Phì, Nội sử Bành Thành, trở thành một hổ tướng của nhà Đông Tấn.
Bình định Hoàn Huyền [sửa]
Năm 402, một viên tướng nhà Đông Tấn là Hoàn Huyền (桓玄) khởi binh soán ngôi nhà Tấn, phế truất Tấn An Đế, lấy quốc hiệu là Sở. Lưu Dụ cùng Lưu Nghị khởi binh cần vương, cuối cùng tiêu diệt được lực lượng Hoàn Huyền vào năm 405, Tấn An Đế Tư Mã Đức Tông phục vị, phong cho Lưu Dụ chức Thị trung, Xa kỵ tướng quân, trong ngoài quản việc quân sự, Thứ sử ba châu Từ, Thanh, Duyện châu, Lục Thượng thư sự, lấy danh nghĩa phò vua giúp nước mà khống chế triều chính nhà Đông Tấn, quyền khuynh thiên hạ.
Mở rộng lãnh thổ [sửa]
Sau đó Lưu Dụ chấp chính hậu thất nhà Tấn, xuất quân Nam chinh Bắc phạt, ổn định tình hình. Năm 409 thống lĩnh quân đội đánh bại Lư Tuần và tiêu diệt nước Nam Yên đóng đô ở Quảng Cố (nay thuộc huyện Ích Đô, tỉnh Sơn Đông). Năm 412 tấn công cứ địa của Tiều Túng (谯纵) ở Tứ Xuyên, thu phục Ba Thục. Năm 415 Diêu Hưng (姚興) vua nước Hậu Tần bệnh chết, con là Diêu Hoằng (姚泓) kế vị, anh em trong nhà sát phạt lẫn nhau, khiến vùng Quan Trung đại loạn. Năm 417 chiếm được Trường An, Hậu Tần diệt vong, vì lập được nhiều công trạng hiển hách nên ông được thăng làm Tướng quốc, rồi thụ phong Tống vương, nhận lễ cửu tích.
Cuối cùng, Lưu Dụ tấn công tiêu diệt lực lượng của Lưu Nghị và đánh đuổi các tôn thất nhà Đông Tấn là Tư Mã Hưu Chi, Tư Mã Sở Chi. Không còn trở ngại, Lưu Dụ ép Tấn Cung Đế Tư Mã Đức Văn phải thoái vị, nhường ngôi cho ông.
Sau khi lên ngôi vua [sửa]
Năm 420 Lưu Dụ lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Tống, sử gọi là nhà Lưu Tống, đổi niên hiệu thành Vĩnh Sơ, nhà Đông Tấn diệt vong, Trung Quốc chính thức bắt đầu bước vào thời kỳ Nam-Bắc triều. Lãnh thổ mà Lưu Dụ thu phục được vào cuối thời nhà Tấn bao gồm phía bắc đến Tần Lĩnh Hoàng Hà, giáp ranh Bắc Ngụy, phía tây đến Đại Tuyết Sơn, Tứ Xuyên, phía tây nam bao gồm Vân Nam, phía đông nam giáp biển. Lưu Tống là vương triều có lãnh thổ rộng lớn nhất trong các triều đại Nam triều. Về sau khu vực từ Nam Hoàng Hà đến Bắc Hoài Hà bị Bắc Ngụy chiếm đoạt, trong đó có Tế Châu, Duyện Châu, Thanh Châu, Từ Châu. Để trừ hậu hoạn cho con cháu về sau, ông ra lệnh sát hại Tấn Cung Đế và diệt trừ cả gia tộc hoàng thất nhà Đông Tấn.
Sau khi lên ngôi, để tránh cái gương của họ Tư Mã, Tống Vũ Đế liền tước bỏ quyền lực của các chư hầu, phiên trấn, tập trung quyền hành trung ương. Do Kinh Châu nhiều lần phản loạn nên biến Kinh Châu phủ thành Kinh Châu hạt, hạn chế quyền hành của các tướng. Để ngừa quyền thần làm loạn nên ra chiếu chỉ phàm sau khi xuất quân hồi sư phải giao lại binh quyền cho triều đình. Quản lý hộ khẩu các thế tộc, giảm bớt nguồn thu của quan phủ chỉnh đốn hộ tịch, thay đổi cách thổ đoạn (thu thuế), chính quyền sở hữu phát hành tiền tệ khuyến khích buôn bán. Tô thuế của nông dân được giảm nhẹ, nuôi dưỡng sức dân, phát triển sinh sản. Từ thời Ngụy Tấn đến nay, triều đình sống xa hoa phú quý, như do Vũ Đế xuất thân nghèo hèn nên chịu khó sống đời thanh bần, đối với ngựa xe, mĩ nữ càng tiết dục, thực hành hàng loạt biện pháp tăng cường trung ương tập quyền, giảm bớt gánh nặng cho nông dân, làm dịu bớt mâu thuẫn giai cấp, đẩy nhanh việc khôi phục và phát triển kinh tế. Vũ Đế đã xây dựng nền tảng vững chắc cho nhà Lưu Tống sau này, ông trị vì được 3 năm thì băng hà vào năm 422 thọ 60 tuổi. Con trưởng là Lưu Nghĩa Phù kế nghiệp.
Gia đình [sửa]
Cha [sửa]
- Lưu Kiều (được truy tôn là Tống Mục Đế)
Mẹ [sửa]
- Hiếu Mục Hoàng Hậu Triệu An Tông
- Hiếu Ý Hoàng Hậu Tiêu Văn Thọ (mẹ kế)
Anh em [sửa]
- Em thứ 2 - Sa Cảnh Vương Lưu Đạo Liên (do mẹ kế sinh)
- Em thứ 3 - Lâm Xuyên Liệt Vũ Vương Lưu Đạo Quy (do mẹ kế sinh)
Hậu phi [sửa]
- Vũ Kính hoàng hậu Tang Ái Thân: Người vợ kết tóc, chính thất, sau được truy phong Dự Chương công phu nhân, Vũ Kính hoàng hậu.
- Phu nhân Trương Khuyết: Sinh Thiếu Đế Lưu Nghĩa Phù. Sau khi Thiếu Đế tức vị phong làm Hoàng Thái Hậu
- Tôn tu hoa, sinh Lư Lăng vương Lưu Nghĩa Chân
- Văn Chương thái hậu Hồ Đạo An, sinh Văn Đế Lưu Nghĩa Long. Sau khi Văn Đế tức vị truy phong làm thái hậu.
- Vương tu dung, sinh Bành Thành vương Lưu Nghĩa Khang
- Viên mĩ nhân, sinh Giang Hạ vương Lưu Nghĩa Cung
- Lữ mĩ nhân, sinh Hành Dương vương Lưu Nghĩa Quý
- Tôn mĩ nhân,sinh Nam Quận vương Lưu Nghĩa Tuyên
Con trai [sửa]
- Tống Thiếu Đế Lưu Nghĩa Phù
- Lư Lăng Hiếu Hiến vương Lưu Nghĩa Chân
- Tống Văn Đế Lưu Nghĩa Long
- Bành Thành vương Lưu Nghĩa Khang. Năm 445 bị phế làm thứ nhân.
- Giang Hạ Văn Hiến vương Lưu Nghĩa Cung
- Nam Quận vương Lưu Nghĩa Tuyên
- Hành Dương Văn vương Lưu Nghĩa Quý
Con gái [sửa]
- Cối Kê Tuyên trưởng công chúa Lưu Hưng Đệ: Tang Ái Thân sinh, còn xưng là Thọ Dương Công Chúa
- Nghĩa Hưng Cung trưởng công chúa Lưu Huệ Viện: Trương Khuyết sinh.
- Quảng Đức công chúa: Phù tu nghi sinh.
Tham khảo [sửa]
- Thẩm Khởi Vĩ, Kể chuyện Lưỡng Tấn Nam Bắc triều, NXB Đà Nẵng, 2007
- Học viện quân sự cấp cao, Lịch sử Trung Quốc từ thượng cổ đến Năm đời mười nước, 1992
|
Lưu Tống Vũ Đế
Sinh: năm 363 Mất: năm 422 |
||
| Tước hiệu | ||
|---|---|---|
| Chức vụ mới Thành lập triều đại
|
Hoàng đế Lưu Tống 420 - 422 |
Kế vị Lưu Tống Thiếu Đế |
| Tiền vị: Tấn Cung Đế của Đông Tấn |
Hoàng đế Trung Hoa (Nam) 420 - 422 |
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||