Từ Hán-Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hán Việt)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Từ Hán-Việt (chữ Hán詞漢越) là từ vựng sử dụng trong tiếng Việt có gốc từ tiếng Trung Quốc nhưng đọc theo âm Việt. Cùng với sự ra đời của chữ quốc ngữ, từ Hán-Việt ngày nay được ghi bằng ký tự Latinh.

Mục lục

Lịch sử[sửa]

Các chữ màu cam là thuộc về chữ Việt thuần chủng còn chữ màu xanh là mượn từ chữ Hán

Với sự giao lưu trên nhiều bình diện văn hóa, kinh tếchiến tranh giữa các dân tộcTrung Quốc, Đông ÁĐông Nam Á, chữ Hán được du nhập và phổ biến rộng rãi, không những trong phạm vi người Hán mà được một số dân tộc lân bang đã chấp nhận chữ Hán làm văn tự của chính họ, trong số đó có người Hàn, người Việtngười Nhật. Ba dân tộc trên nói ba thứ tiếng khác nhau mà cũng không thuộc hệ ngôn ngữ với tiếng Hán nhưng đã mượn chữ Hán một cách quy mô.

Đối với người Việt sau hàng trăm năm Bắc thuộc, văn hóa Hán xâm nhập và chi phối sinh hoạt xã hội người Việt khá sâu đậm. Về mặt ngôn ngữ tuy người Việt vẫn nói tiếng Việt nhưng tiếng Hán, nhất là trong những phạm vi triết học, chính trịkỹ thuật được người Việt vay mượn rất nhiều.

Thời kỳ Bắc thuộc[sửa]

Có thuyết cho rằng người Việt thời cổ có chữ viết riêng nhưng bị người Hán hủy bỏ, cấm đoán nên mất hẳn[1] nhưng đến nay chưa có chứng tích gì rõ rệt về văn tự người Việt thời thượng cổ. Chỉ biết là khi nước Giao Chỉ của người Việt bị nhà Hán chinh phục thì chữ Hán cũng theo chân quan lại Trung Hoa sang nước Việt từ thế kỷ thứ nhất. Người Việt từ đó tiếp xúc với chữ Hán: chép, rồi đọc chữ Hán nhưng cách phát âm thì theo âm vực và quy luật tiếng Việt và từ đó phát sinh ra âm Hán Việt. Đó là lớp chữ Hán Việt của giai đoạn đầu tiên.

Thời kỳ tự chủ[sửa]

Sang thế kỷ thứ 10 thì một sự kiện lịch sử quan trọng đánh dấu một bước ngoặt trong tiếng Việt; đó là cuộc khởi nghĩa của Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán, chấm dứt gần 1000 năm phụ thuộc nước Tàu và khai sáng triều đại quân chủ mới, định đô ở Cổ Loa. Mất đi sự hiện diện trực tiếp của lớp người Hán thống trị, âm Hán Việt từ đó bị cách ly khỏi dòng chính của tiếng Hán và đi theo một hướng riêng của tiếng Việt. Phần lớn kho từ vựng Hán Việt ngày nay được định hóa thuộc giai đoạn thứ hai này.

Từ vựng Hán-Việt đã góp phần làm phong phú vốn từ của tiếng Việt, phần thì bổ túc cho những từ ngữ không có trong có trong tiếng Việt, ngoài ra gia tăng ngữ nghĩa thêm tinh tế cho dù có sẵn những chữ thuần Việt song hành. Ngày nay, khi muốn sử dụng một thuật ngữ mới, người ta đều có xu hướng dùng từ Hán-Việt như: "lập trình", "vi mạch", "Wiki hóa"...

Bản chất từ Hán Việt[sửa]

Hiện tượng đồng âm trong từ Hán-Việt khá phổ biến vì chính tiếng Hán có nhiều chữ đồng âm. Khi chuyển sang âm Việt thì tình trạng đồng âm tiếp tục tuy cũng có một số khác biệt. Thí dụ những trường hợp đồng âm phổ biến là:

  1. "phi" 飛 = "bay" khác với "phi" 非 = "không" hay "ngoại trừ";
  2. "tử" = "con" khác với "tử" 死 = "chết".

Ngược lại có một só chữ đối với người Hán đọc giọng Hán thì là đồng âm nhưng âm Hán Việt lại đọc khác nhau. Thí dụ những chữ mà Hán Việt cho là hai âm riêng nhưng người Hán lại cho là đồng âm là:

  1. "ngư" 魚 = "con cá", và "dư" 餘 = "thừa"
  2. "bức" 蝠 = "con dơi", và "phúc" 福 = "tốt lành".

Phân loại từ Hán-Việt[sửa]

Đại đa số từ Hán-Việt có âm Hán-Việt tiêu chuẩn gọi là "từ Hán-Việt tiêu chuẩn" hay "từ thuần Hán-Việt", như lịch sử (歷史), văn hóa (文化)... Chúng là những từ gốc Hán làm thành một bộ phận quan trọng của tiếng Việt từ giai đoạn đời Đường. Những từ này đã được người Việt chuẩn hóa cách đọc theo hệ thống ngữ âm của mình.

Từ Hán-Việt cổ là những từ được du nhập vào Việt Nam khá sớm nên còn mang nhiều nét âm vận của tiếng Trung Quốc trước đời Đường, như: mùi, buông, múa, muộn, cởi, khoe... so với từ Hán Việt "tiêu chuẩn" tương ứng là vị (味), phóng (放), (舞), vãn (晚), giải (解), khoa (夸)... Một bộ phận khác cũng du nhập vào Việt Nam tương đối sớm, bị ảnh hưởng bởi ngữ âm bản địa thời đó nên âm đọc của chúng khác với âm đọc sau này; nhóm này gọi là "từ Hán-Việt bị Việt hóa" như: gần, giường, gan... so với cận (近), sàng (床) hay can (肝)...

Từ Hán-Việt với ý nghĩa khác với từ Hán trong tiếng Hán[sửa]

Có một số từ Hán Việt mang ý nghĩa đối với người Việt khác với tiếng Hán chính thống. Ví dụ như ngày nay trong tiếng Trung Quốc từ "bác sỹ" (Hán văn: 博士) thường dùng để chỉ học vị "tiến sỹ", còn bác sỹ được gọi là "y sinh" (Hán văn phồn thể: 醫生, Hán văn giản thể: 医生) hoặc "đại phu" (Hán văn: 大夫, thường dùng trong khẩu ngữ).

Xem thêm[sửa]

Chú thích[sửa]

  1. ^ Bí ẩn chữ viết thời Hùng Vương

Liên kết ngoài[sửa]