Thứ bậc hậu phi nhà Thanh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Quan nữ tử)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Dưới đây là thứ bậc Hậu phi trong Hậu cung nhà Thanh.

Hậu Cung của Đương Kim Hoàng đế[sửa | sửa mã nguồn]

Được chia làm ba cấp bậc chính: Hoàng hậu (thê, chính thất), Phi tần (thiếp, trắc thất) và các Tiểu chủ (tỳ thiếp) [1]. Họ là các "chủ tử" trong Hậu cung, được các Thái giám và Cung nữ hầu hạ. Một khi nhập cung và nhận sắc phong của Hoàng đế, họ sẽ sống cả đời trong Hậu cung, trừ một số trường hợp khi Hoàng đế qua đời được đặc cách xuất cung ở với con trai là Thân vương, Quận vương...

Hoàng hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Thanh có 12 Hoàng đế và tổng cộng 25 Hoàng hậu (皇后)[2]. Hoàng Hậu là vợ chính thống (chính thê) của Hoàng đế, vì vậy luôn luôn chỉ có một Hoàng hậu tại vị. Hoàng hậu được lập trong các trường hợp sau:

  • Khi một Hoàng tử (A-ka) lên ngôi Hoàng đế, Đích Phúc tấn sẽ được sắc phong Hoàng hậu.[3]
  • Khi một Hoàng hậu qua đời hoặc bị phế truất, triều đình sẽ tuyển chọn một Hoàng hậu mới hoặc một Phi tần được lập làm Hoàng hậu .[4]
  • Khi một Phi tần qua đời được truy phong (thường là bởi chồng[5] hoặc con trai ở ngôi Hoàng đế[6]).

Trên danh nghĩa, Hoàng hậu là người thống lĩnh Hậu cung, quản lý tất cả các Phi tần, Nữ quan, Thái giám và Cung nữ, tuy đôi lúc quyền này thực sự thuộc về một Phi tần đắc sủng. Hoàng hậu được coi là Hoàng ngạch nương (mẹ) của tất cả các A-ka và Cách cách trong Hoàng cung. Đầu Triều Thanh, Hoàng hậu sống ở Cung Khôn Ninh, từ thời Ung Chính thì dọn sang một trong mười hai cung ở Hậu Cung.

Phi Tần[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần là vợ lẽ (thiếp, trắc thất) của Hoàng đế, cấp bậc dưới Hoàng hậu nhưng trên các Tiểu chủ (Quý nhân, Thường tại và Đáp ứng). Giống Hoàng hậu, số lượng của Phi tần tại vị trong một thời điểm được giới hạn. Mỗi Phi tần thường là Cung chủ của một trong mười hai cung ở Hậu Cung, vì vậy khi Hoàng đế lật thẻ (chọn người hầu ngủ) của Phi tần nào thì sẽ ngự giá tới cung của Phi tần đó. Cũng giống như Hoàng hậu, Phi tần được quyền nuôi con và được những người danh phận thấp hơn gọi là "nương nương". Phi tần được lập trong các trường hợp sau:

  • Khi một Hoàng tử (a-ka) lên ngôi Hoàng đế, Trắc Phúc tấn sẽ được lập làm Phi hoặc Quý phi, Cách cách (thiếp của các Hoàng tử, địa vị dưới Trắc Phúc tấn) sẽ được lập làm Tần.[7]
  • Một vị Quý nhân đắc sủng được sắc phong lên thêm một bậc nếu có một vị trí trống.[8]
  • Công chúa lân bang (thường là Công chúa của các bộ lạc Mông Cổ) hoặc con gái của đại thần có công có thể được sắc phong thẳng lên hàng Phi mà không cần thông qua các vị trí thấp hơn

Phi tần được chia làm các cấp:

  • Hoàng quý phi: chính nhất phẩm, đứng đầu Phi tần, một người tại vị. Hoàng quý phi thường được coi như Phó hậu. Khi Hoàng đế chưa thể sắc phong một Phi tần làm Hoàng hậu vì trái quy tắc (các dịp đại tang của Tiên đế, Thái hậu hoặc Hoàng hậu), thường sắc phong làm Hoàng quý phi [9] và ban quyền quản lý Hậu cung. Nhiều trường hợp Hoàng quý phi thay thế Hoàng hậu cai quản Hậu cung, đặc biệt khi Hoàng hậu thất sủng (như Lệnh Ý Hoàng quý phi của Càn Long).
  • Quý Phi: chính nhị phẩm, hai người tại vị. Về phẩm cấp, Quý phi thấp hơn Hoàng hậu và Hoàng quý phi, nhưng thực tế ở triều Thanh có nhiều Quý phi thống lĩnh Hậu cung (như Hi Quý phi của Ung Chính)
  • Phi: chính tam phẩm, bốn người được tại vị.
  • Tần: chính tứ phẩm, sáu người được tại vị.

Tiểu chủ[sửa | sửa mã nguồn]

Các Tiểu chủ là các Tú nữ được sắc phong khi mới nhập cung hoặc các Thị thiếp (tỳ thiếp không có danh phận) của các Hoàng đế trước khi đăng cơ, danh phận thấp hơn bậc Tần. Các Tiểu chủ thường chỉ ở tại các cung điện nhỏ hoặc phòng ốc trong mười hai cung của Hậu cung do các Phi tần làm chủ, vì vậy Hoàng đế khi lật thẻ Tiểu chủ nào Tiểu chủ đó sẽ được đưa tới Cung Càn Thanh (hay Điện Dưỡng Tâm) bằng "Ngự Liễn" (kiệu của vua). Con cái do các Tiểu chủ sinh ra sẽ được các Phi tần danh phận cao nuôi dưỡng. Không có giới hạn cho số lượng Tiểu chủ (như Khang Hi có tổng cộng 79 thê thiếp). Các Tiểu chủ không được gọi là nương nương.

Các cấp bậc của tiểu chủ là:

  • Quý nhân: là cấp bậc cao nhất một Tú nữ mới vào cung có được sắc phong. Thường thì các Đáp ứng và Thường tại trước khi được sắc phong lên Phi tần (nương nương) đều qua bậc Quý Nhân.
  • Thường tại: Là cấp bậc lớn thứ hai một Tú nữ được sắc phong khi mới nhập cung.
  • Đáp ứng: Là cấp bậc thấp nhất của một "chủ tử" trong Hậu cung.

Dưới các Tiểu chủ là bậc Quan nữ tử, là một Cung nữ được Hoàng Đế sủng hạnh. Quan Nữ Tử không được coi là một Chủ tử ở Hậu cung. Nếu được sủng ái, Quan nữ tử có thể được sắc phong các danh phận cao hơn như Đáp ứng, Thường tại, Quý nhân.

Hậu Cung của Tiên Đế[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà Thanh đã tiến bộ hơn các thời đại phong kiến trước nhiều nên các Phi tần của đời vua trước không bị tuẫn táng khi vua băng hà mà được phụng dưỡng tới khi qua đời.

Thái Hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Thái hậu là ngạch nương (mẹ đẻ-mẫu phi) hay Hoàng ngạch nương (mẹ đích-mẫu hậu) của Hoàng Đế sau khi được sắc phong/thuỵ phong.

Thái hậu có quyền lực lớn hơn Hoàng hậu (có quyền tuyển chọn Hoàng Hậu) nhưng thường không trực tiếp can dự chuyện Hậu cung. Không giống như Hoàng hậu, có thể có nhiều hơn một Thái hậu tại vị một lúc (ví dụ đời vua Đồng Trị với Từ An Thái HậuTừ Hi Thái Hậu).

Nếu Hoàng hậu của Tiên đế nhưng không phải là mẹ ruột của Hoàng đế thì sẽ phong là Mẫu Hậu Hoàng thái hậu. Nếu Phi tần của Tiên đế mà là mẹ ruột của Hoàng đế thì được phong là Thánh Mẫu Hoàng thái hậu.

Thái Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Phi tần của Hoàng Đế đời trước mà không phải là mẹ đẻ của đương kim Hoàng đế thì được phong một trong các danh hiệu (từ cao đến thấp): Hoàng quý thái phi, Quý thái phi, Thái phi, Thái tần. Nếu họ có con trai được phong tước thì có thể được đặc cách dọn tới ở Vương phủ ở cùng con, nếu không sẽ ở Cung Từ Ninh.

Nếu không có Thái hậu thì một Thái phi đứng đầu có thể trực tiếp cai quản Hậu cung và lựa chọn Hoàng hậu (như Cẩn Thái Phi đời Phổ Nghi).

Thê thiếp của Hoàng tử _ Thái tử[sửa | sửa mã nguồn]

Thê thiếp chính thức của các Hoàng tử (A-ka) được gọi là Phúc tấn (福晋). Vợ cả là Đích Phúc tấn (嫡福晋), còn các thiếp (được phong danh phận) là Trắc Phúc tấn (侧福晋). Đối với Thái tử thì thê (vợ cả) là Thái tử phi, còn các thiếp vẫn là danh phận Trắc phúc tấn, nhưng địa vị cao hơn các Phúc tấn của các Hoàng Tử khác. Phúc tấn là một danh hiệu của quý tộc nhà Thanh, được hành lễ bởi những người thân phận thấp hơn và nhận bổng lộc hàng tháng, vì vậy chỉ được sắc phong bởi Hoàng đế. Dù là Trắc Phúc tấn cũng thường xuất thân từ gia đình quý tộc Bát Kỳ. Các tiểu thiếp khác của Hoàng tử nếu xuất thân thấp kém, không được Hoàng đế sắc phong thì không được gọi là Phúc tấn. Dưới Phúc tấn còn có các Cách cách và Thị thiếp.

Cung nữ[sửa | sửa mã nguồn]

Là những người được bán hay là tuyển chọn để vào Tử Cấm Thành hầu hạ Hoàng đế và các Chủ tử trong cung.

Nếu là những người tuyển chọn thì sẽ có bổng lộc cao hơn vì được chọn lọc kỹ lưỡng để hầu hạ Hoàng đế, Thái hậu, Hoàng hậu và các Phi tần trong cung. Nếu những người vì hoàn cảnh mà bán vào trong cung thì sẽ làm việc tại các phòng, các ti trong Tử Cấm Thành.

Khác với các chủ nhân ở Hậu cung, Cung nữ đời nhà Thanh chỉ phải ở trong cung đến 25 tuổi là có thể xuất cung và sống như những người phụ nữ bình thường khác (lấy chồng, sinh con...). Cũng có những trường hợp Cung nữ tự nguyện ở trong cung cả đời, trở thành Cô cô trưởng quản Cung nữ của một cung.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ ^ "Empresses and Consorts: Selections from Chen Shou's Records of the Three States with Pei Songzhi's Commentary". China Review International, Vol. 8, No. 2, Fall 2001, pp. 358–363.
  2. ^ http://www.baike.com/wiki/%E6%B8%85%E6%9C%9D%E7%9A%87%E5%90%8E
  3. ^ Hiếu Hiền Thuần Hoàng hậu
  4. ^ Kế Hoàng hậu
  5. ^ Đổng Ngạc Hoàng quý phi
  6. ^ Hi Quý phi
  7. ^ Niên Quý phi
  8. ^ Như Phi
  9. ^ Hiếu Hòa Duệ Hoàng Hậu

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]