Trịnh Kiểm

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trịnh Kiểm
Chúa Trịnh (chi tiết...)
Tại vị 1545 - 1570
Thời Vua Lê Trang Tông
Vua Lê Trung Tông
Vua Lê Anh Tông
Kế nhiệm Trịnh Cối
Thông tin chung
Thê thiếp Nguyễn Thị Ngọc Bảo
Lại Thị Ngọc Trân
Trương Thị Ngọc Lãnh
Tên đầy đủ Trịnh Kiểm
Thụy hiệu Minh Khang Thái Vương (明康太王)
Miếu hiệu Thế Tổ (世祖)
Hoàng tộc Chúa Trịnh
Thân phụ Trịnh Lâu
Thân mẫu Hoàng Ngọc Dốc
Sinh 1503
Mất 1570(67 tuổi)

Trịnh Kiểm (chữ Hán:鄭檢, 15031570) là người mở đầu sự nghiệp nắm quyền của họ Trịnh và gián tiếp tạo nên tình trạng vua Lê - chúa Trịnh tại Bắc Hà (miền Bắc Việt Nam ngày nay) cũng như là đầu mối của chiến tranh Trịnh-Nguyễn sau này.

Đương thời khi cầm quyền ông không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Thái Vương. Ông là người nắm quyền chỉ huy quân đội trong triều các vua Lê thời Nam Bắc triều từ năm 1545 tới khi mất (tháng 2 năm Mậu Ngọ, 1570).

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Trịnh Kiểm là người quê ở làng Sóc Sơn, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông mồ côi cha từ lúc 6 tuổi, sống nghèo nàn quê ngoại ở thôn Hổ với mẹ là bà Hoàng Thị Dốc. Từ nhỏ, ông đã tỏ ra là 1 cậu bé lanh lợi, biết ứng xử, giỏi đối đáp và đặc biệt là rất can đảm. Cậu thường tụ tập những đứa trẻ chăn trâu chia phe đánh trận trong rừng. Phe của cậu luôn chiến thắng. Kiểm còn rất có hiếu với mẹ. ông làm thuê gánh mướn đủ mọi việc để nuôi mẹ. Năm 16 tuổi(1519), 1 hôm đi làm về không thấy mẹ, liền bổ đi tìm mới biết mẹ bị ngã xuống vực chết. Sau khi làm tang cho mẹ xong, Kiểm bỏ quê đi lưu lạc, làm chăn ngựa cho nhà giàu. Nhờ đó,Kiểm rất rành về ngựa, có nhiều kinh nghiệm chăm sóc và huấn luyện ngựa, nhất là ngựa chiến.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Bấy giờ nhà Mạc cướp ngôi nhà Hậu Lê, Nguyễn Kim khởi nghĩa tái lập nhà Lê. Thế Nam Bắc triều hình thành. Trịnh Kiểm đầu quân làm gia tướng theo Nguyễn Kim. Là người có tài, ông được Nguyễn Kim giao cho nhiều trọng trách và gả con gái là Ngọc Bảo cho.

Theo Lịch sử vuơng quốc Đàng Ngoài của Alexandre De Rhodes: Khi quân Mạc tấn công vào kinh thành,quân Nguyễn Kim bị vây giữa vòng vây của địch. Kim đã giao ước với các tướng rằng ông sẽ gả con gái cho ai có thể giải cứu ông và nghĩa quân ra khỏi vòng vây ấy. Trịnh Kiểm phi ngựa xông lên hăng hái đánh giết giăc,cứu được Kim và mở đường huyết lộ cho nghĩa quân rút lui. Vì vậy, theo lời hứa, Kim gả con gái là Ngọc Bảo cho Kiểm và giao nhiều trọng trách cho ông, đặc biệt là việc huấn luyện kị binh cho nghĩa quân.

Năm 1539, ông được phong làm Đại tướng quân, tước Dực Quận Công do có công cầm binh mã sang Ai Lao đón vua Lê Trang Tông (vua Lê thấy Kiểm dung mạo tuấn tú nên phong tước cho ông, lúc đó ông 37 tuổi). Sau khi Nguyễn Kim bị đầu độc năm 1545, toàn bộ binh quyền của nhà Lê rơi vào tay Trịnh Kiểm, với tước hiệu Thái sư Lạng Quốc Công.

Năm 1546, ông rước vua Trang Tông về Tây Đô, lập ra Nam triều để phân biệt với Bắc triều là lực lượng nhà Mạc. Năm 1548, vua Trang Tông mất, Trịnh Kiểm cho lập con lớn của Trang Tông là Duy Huyên lên nối ngôi lấy hiệu là Trung Tông. Do uy quyền của Trịnh Kiểm quá lớn, người con thứ của Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng phải xin vào Nam trấn giữ đất Thuận Hoá.

Năm 1551, Trịnh kiểm giao binh cho Lê Bá Ly đánh Sơn Nam,Nguyễn Khang Khải đánh Sơn Tây,Vũ Văn Mật đánh Tuyên Quang. rồi cùng Kiểm tụ hội ở Thăng Long. Trước khi ra quân, ông viết 1 bức thư Nôm, kêu gọi mọi người hãy nhớ đến công ơn đức Thái tổ Lê Lợi năm xưa đã đánh đuổi giặc Minh, giành độc lập cho đất nước... để đồng lòng tôn phò vua Lê, tiêu diệt kẻ soán ngôi.Rồi cùng 3 tướng đồng loạt ra quân. Mạc Phúc Nguyên phải bỏ thành, chỉ để Mạc Kính Điển ở lại trấn giữ phía bắc sông Nhị. Sau khi chiếm thành, ông liền rút quân về Tây Đô để tránh quân Mạc huy động thêm viện binh đánh úp.

Năm 1553, Kiểm bành trướng lực lượng xuống phía Nam, giao cho Nguyễn Hoàng ra trấn giữ, nhằm tạo chỗ dựa vững chắc ở phía Nam cho mình.

Năm 1555, Kiểm chỉ huy phục kích đánh tan quân Mạc trên sông Mã. Mạc Kính Điển phải bỏ quân mới thoát thân.

Năm 1556, vua Trung Tông mất không có con nối. Trịnh Kiểm lúc đó binh quyền rất lớn, muốn thay nhà Lê làm vua, nhưng còn ngại những lời dị nghị nên sai người đi hỏi Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trạng Trình mách khéo rằng: "giữ chùa thờ Phật thì ăn oản". Trịnh Kiểm hiểu ý bèn tìm người trong dòng dõi nhà Lê là Lê Duy Bang (cháu 6 đời của Lê Trừ - anh Lê Lợi) lập làm vua, tức Lê Anh Tông.

Từ khi lên nắm binh quyền,Trịnh Kiểm ra sức củng cố lực lượng,chiêu mộ nhân tài, nên quân đội Nam Triều ngày càng hùng mạnh. Quân nhà Mạc do đại tướng Mạc Kính Điển chỉ huy 10 lần tấn công Thanh Hóa.Ngược lại, Trịnh Kiểm cũng 6 lần đánh lên Sơn Nam, thu hồi các huyện Yên Mô, Yên Khang, Phụng Hóa, Gia Viễn, khiến cho nhà Mạc ở phía Bắc phải kiêng nể.

Năm 1569, vua Lê Anh Tông gia phong cho Kiểm làm Thượng Tướng Thái Quốc Công và tôn là Thượng phụ. Một năm sau thì Trịnh Kiểm qua đời, vua Lê sai con trưởng của Trịnh Kiểm là Trịnh Cối nắm binh quyền.

Trịnh Kiểm được truy tôn là Thế Tổ Minh Khang Thái Vương, hiệu là Trung Huân.

Vai trò lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc đời ông về cơ bản là cuộc đời của một chiến binh. Các trận đánh lớn nhỏ của ông với quân nhà Mạc mà người chỉ huy của đội quân này là Mạc Kính Điển là những trận đánh bất phân thắng bại khi xét về tổng thể. Cuộc chiến tranh này đã gây nhiều đau thương tang tóc cho nhân dân. Chưa thấy có tài liệu nào ghi chép rõ ràng về vai trò quản lý kinh tế hay vai trò người đứng đầu cơ quan hành pháp của ông, có lẽ là do các vấn đề quân sự khi đó đã lấn át tất cả, chỉ thấy có một số đoạn nhỏ cho thấy vai trò quản lý nhà nước trong kinh tế của ông là sai các viên quan đi đo đạc đất đai để thu thuế hay đắp đê, làm đường.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Con trai:
    • Đạt Nghĩa công Trịnh Cối. Con của Chính phi Lại thị.
    • Thành tổ Triết vương Trịnh Tùng. Con của thứ phi Nguyễn thị.
    • Dương Nghĩa công
    • Dịch Nghĩa công.
    • Cần Nghĩa công.
  • Con gái: 2 quận chúa.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  
1
Trịnh Kiểm
1556 - 1570
 
 
2
Trịnh Tùng
1570 - 1623
 
 
3
Trịnh Tráng
1623 - 1657
 
 
4
Trịnh Tạc
1657 - 1682
 
 
5
Trịnh Căn
1682 - 1709
 
 
Trịnh Vĩnh  
 
Trịnh Bính  
 
6
Trịnh Cương
1709 - 1729
 
 
   
7
Trịnh Giang
1729 - 1740
  8
Trịnh Doanh
1740 - 1767
 
   
12
Trịnh Bồng
1786 - 1787
  9
Trịnh Sâm
1767 - 1782
 
 
   
11
Trịnh Khải
1782 - 1786
  10
Trịnh Cán
1782 - 1782