Lê Túc Tông

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Túc Tông
黎肅宗
Hoàng đế Đại Việt (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Hậu Lê
Trị vì 6 tháng 6, 1504[1] - 8 tháng 12, 1504[1]
Đăng quang 6 tháng 6 năm 1504 [1]
Tiền nhiệm Lê Hiến Tông
Kế nhiệm Lê Uy Mục
Thông tin chung
Tên húy Lê Thuần (黎㵮)
Niên hiệu Thái Trinh (泰貞)
Thụy hiệu Chiêu Nghĩa Hiển Nhân Ôn Cung Uyên Mặc Hiếu Doãn Cung Khâm Hoàng Đế
昭義顯仁溫恭淵默惇孝允恭欽皇帝
Miếu hiệu Túc Tông (肅宗)
Triều đại Nhà Hậu Lê
Thân phụ Lê Hiến Tông
Thân mẫu Trang Thuận Duệ hoàng hậu
Sinh 1 tháng 8, năm 1488 [2]
Đông Kinh
Mất 30 tháng 12, 1504 (16 tuổi) [2]
Hoàng Cực điện,[2] Đông Kinh
An táng Kính lăng (敬陵)

Lê Túc Tông (chữ Hán: 黎肅宗; 1 tháng 8, 1488[3] - 30 tháng 12, 1504), là vị hoàng đế thứ 7 của nhà Hậu Lê trong lịch sử Việt Nam, ở ngôi trong vòng 6 tháng; từ ngày 6 tháng 6 đến ngày 30 tháng 12 trong năm 1504.

Ông được sử cũ miêu tả là vị Hoàng đế có tính cách vui điều thiện[3], tính cách hiền hòa.[4]

Dù ông là con thứ 3 nhưng do hiếu học, chăm ngoan, ông được cha là hoàng đế Lê Hiến Tông phong làm Hoàng thái tử nối vị. Không lâu sau khi lên nối ngôi Hoàng đế vào năm 1504, ông đã hoàn tất nhiều việc tốt, chẳng hạn như phóng thích phi tần, giảm lệ thuộc vào sức lao động của nhân dân. Ông cũng thực thi nền quân chủ chuyên chế, không để bị lấn át, và thần dân Đại Việt vui mừng với đời sống thái bình thịnh trị.[3]

Dưới triều đại của ông, một cuộc phản loạn của Đoàn Thế Nùng tại Cao Bằng cũng bị dẹp tan.[3]

Tuy là vị Hoàng đế hiền minh, giữ nước thăng bình, xứng đáng là người kế thừa[4], nhưng không may Túc Tông lại lâm bệnh và mất sớm vào cuối năm 1504.[3] Điều ấy chấm dứt triều đại chỉ trong vòng có 6 tháng của ông.[4] Ông không có con nối dõi,[4] và sau cái chết đột ngột sủa của ông, triều đại Hậu Lê bắt đầu suy yếu, với sự nối ngôi của người anh tàn ác của ông là Lê Uy Mục.[5]

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Túc Tông hoàng đế tên húyLê Thuần (黎㵮) [5], sinh ngày 1 tháng 8 âm lịch, năm Hồng Đức thứ 19 (1488), với tư cách là Hoàng tôn của Thánh Tông Thuần hoàng đế.[2]. Ông là con trai thứ ba trong số sáu Hoàng tử[6] của Hiến Tông Duệ hoàng đế, mẹ là Trang Thuận hoàng hậu Nguyễn Hoàn, quê ở Bình Lăng, Thiên Thi, Hưng Yên.

Vào ngày 17 tháng 2 (âm lịch) năm Kỷ Mùi 1499, niên hiệu Cảnh Thống thứ 3, Lê Hiến Tông ban sắc chỉ cho Thái bảo Sùng Khê hầu Lê Vĩnh, Đô kiểm điểm Cống Xuyên hầu Lê Năng Nhượng:[6]

Mới rồi nhận được bản tâu của các khanh, lo kế lớn cho tông miếu xã tắc, khẩn thiết xin dựng lập hoàng trừ, Trẫm rất khen ngợi việc đó... hoàng tử thứ ba là Thuần rất ham thích Thi, Thư, dốc lòng hiếu kính, Trẫm đích thân vỗ về dạy bảo, nay đã trưởng thành, Trẫm quyết đoán từ công tâm, cho giữ ngôi Thái tử, thực không phải là bỏ con trưởng lập con thứ, mà là vì thiên hạ chọn người làm vua đó! Song điện chính Đông cung Trẫm còn đang ở, nên làm cung mới bên cạnh điện, và làm sách phong Thái tử, tuyên bố nghi lễ tiết văn, truyền cho Hữu ty chọn ngày cử hành việc đó.

—Lê Hiến Tông

Quả thật, vào tháng 3 âm lịch năm 1499, Hoàng tử Lê Thuần được phong làm Hoàng thái tử. Khi mất, Hiến Tông cũng có để lại di chiếu tôn Lê Thuần lên kế vị.[6]

Sáu tháng cai trị[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Lê Hiến Tông qua đời, Trung quân đô đốc phủ tạ đô đốc Bình Sơn hầu Lê Quảng Độ, Nam quân đô đốc phủ tả đô đốc phò mã đô uý Lâm Hoài bá Lê Đạt Chiêu và các vị quan phò mã, các vị quan Ngũ phủ, Lục bộ, Đông các, Hàn lâm viện, Lục tự, Lục khoa tới Hoàng Cực điện rước Thái tử Lê Thuần lên kế vị[6]. Đó là ngày 6 tháng 6, tức là ngày Tân Mão năm Giáp Tý (tức 17 tháng 7 năm 1504), ông lên ngôi Hoàng đế, lấy niên hiệuThái Trinh (泰貞), sử gọi là Lê Túc Tông. Ông còn xưng là Tự Hoàng (嗣皇)[6] và lấy ngày sinh của mình làm Thiên minh Thánh tiết (天明聖節), tổ chức cúng viếng tông miếu.[3]

Vị tân Hoàng đế liền cử sứ thần sang chầu nhà Minh bên Trung Quốc. Theo lệnh của ông, Lại bộ Thị lang Đặng Tán, Kiểm thảo Khuất Quỳnh Cửu và Hộ khoa đô cấp sự trung Lưu Quang Phụ mang lễ vật đi dâng cống; trong khi Binh bộ Hữu Thị lang Nguyễn Lân và Giám sát ngự sử Nguyễn Kính Nghiêm thì mang nhiệm vụ báo tang cho tiên hoàng Hiến Tông; còn Lễ bộ Hữu Thị lang Nguyễn Bảo Khuê, Đông các hiệu thư Trần Viết Lương và Hiệu thư Vũ Châu thì mang trách nhiệm thỉnh cầu triều Minh thừa nhận ngôi vị của Túc Tông.[3] Giống như Hiến Tông, ông là người hiền hòa, hiếu học và thích làm điều thiện.

Dưới triều Túc Tông có vụ nổi loạn của Đoàn Thế NùngCao Bằng. Triều đình phải phát binh đánh dẹp, Đoàn Thế Nùng bị bắt giết cùng với thủ hạ hơn 500 người.[3]

Hoàng đế Túc Tông chỉ lên ngôi chưa lâu, nhưng ông dốc chí nối dõi và xây dựng cơ đồ của triều đại, việc nào việc nấy cũng hết mực chu đáo. Ông ban bố lệnh giải phóng các tù nhân, cung nữ, cho ngừng những việc không cần thiết và làm nhẹ đi những việc gây áp lực nặng. Ông cũng cắt giảm lễ vật, hạn chế dựa vào sức lao động của dân và tiếp tục tôn kính các vị công thần. Ông thâu tóm trong tay quyền lực tuyệt đối, luôn ra sức kìm hãm không để cho ngoại thích lộng quyền, lại vui sống hòa thuận với các Thân vương trong Hoàng gia. Những thành tựu của vị Hoàng đế trẻ tuổi rất được lòng thần dân, họ vui mừng rằng đất nước sẽ được hưng thịnh như Trung Quốc dưới thời Chu Thành Vương, Chu Khang Vương, Hán Văn ĐếHán Cảnh Đế vậy.[3]

Qua đời[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 8 tháng 11, năm 1504, sức khỏe của Lê Túc Tông không được tốt.[3] Ông lại không có con để nối dõi Đế vị.[4] Biết không qua khỏi, ông mời các quan triều thần bao gồm: Bình Sơn hầu Lê Quảng Độ, Cống Xuyên bá Lê Năng Nhượng cùng các võ tướng đến chầu, để chỉ định người anh thứ 2 là Lê Tuấn, tức Lê Uy Mục lên ngôi:[3]

Bệnh Trẫm chưa khỏi, lo rằng việc phó thác nặng nề e sẽ không kham nổi. Con thứ hai của Tiên hoàng đế là Tuấn, là người hiển minh, nhân hiếu, có thể nối được ngôi chính thống, để thừa kế tổ tông, vỗ về thân dân. Đại thần và các quan hãy hết lòng trung trinh để giúp nên nghiệp lớn; thân vương nào dám tiếm vượt ngôi trời thì người trong nước cùng nhau giết đi.

—Lê Túc Tông

Vào ngày Quý Hợi, tức là ngày 7 tháng 12 âm lịch năm 1504, ông lâm trọng bệnh. Hôm sau, tức là ngày 8 tháng 12 âm lịch năm 1504, Hoàng đế Túc Tông băng hà tại điện Hoàng Cực, hưởng dương 17 tuổi[3].

Túc Tông hoàng đế băng hà, để lại di chuyến truyền cho bá quan tổ chức cúng giỗ theo cổ tục. Linh cữu của ông được đưa về Tây Kinh vào tháng 3 năm 1505. Uy Mục đế ra lệnh cho quan lại làm văn bia cho ông[3], lăng tẩm gọi là Kính lăng (敬陵).

Vào ngày Giáp Tuất, tức ngày 16 tháng 12 năm 1504, tân Hoàng đế Lê Uy Mục truy tặng cho ông miếu hiệuTúc Tông (肅宗), và thụy hiệuChiêu Nghĩa Hiển Nhân Ôn Cung Uyên Mặc Đôn Hiếu Doãn Cung Khâm Hoàng Đế (昭義顯仁溫恭淵默惇孝允恭欽皇帝). Đời sau gọi ông là Túc Tông Khâm hoàng đế (肅宗欽皇帝), Khâm Hoàng (欽皇) hay Tự Hoàng Thuần (嗣皇㵮).

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư có nhận xét về Lê Túc Tông:[3]

Vua dốc chí hiếu học, thân người hiền, vui điều thiện, xứng đáng là vị vua giỏi giữ cơ nghiệp thái bình, không may mất sớm, tiếc thay!

—Đại Việt Sử Ký Toàn Thư

Sự hiền minh của vua Túc Tông chứng tỏ vua cha Hiến Tông của ông đã có một quyết định đúng đắn khi chọn ông là Hoàng đế kế tục của mình.[4]

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]