Lê Cung Hoàng

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lê Cung Hoàng
Hoàng đế Việt Nam (chi tiết...)
Hoàng đế nhà Hậu Lê
15221527
Tiền nhiệm Lê Chiêu Tông
Kế nhiệm Lê Trang Tông
Thông tin chung
Tên húy Lê Xuân (黎椿)
Niên hiệu Thống Nguyên (統元)
Thụy hiệu Cung Hoàng Đế
恭皇帝
Triều đại Nhà Hậu Lê
Thân phụ Lê Minh Tông
Thân mẫu Trịnh Thị Loan
Sinh 26 tháng 7, 1507
Đông Kinh
Mất 15 tháng 6, 1527
Tây cung, Đông Kinh
An táng Hoa Dương lăng (華陽陵)

Lê Cung Hoàng (chữ Hán: 黎恭皇; 26 tháng 7, 15071527), là vị Hoàng đế thứ 11 của nhà Hậu Lê, ở ngôi từ năm 1522 đến 1527, tổng cộng 5 năm. Ông là vị hoàng đế cuối cùng của nhà Lê sơ.

Cung Hoàng lên ngôi trở thành bù nhìn, bị quyền thần Mạc Đăng Dung không chế, thực tế không hề có quyền hạn. Vận nước đã hết, tài năng Cung Hoàng lại không có, về sau ông bị Mạc Đăng Dung giết chết, số phận thật bi thảm.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Cung Hoàng có tên húyLê Xuân (黎椿), sinh vào ngày 26 tháng 7 năm Đoan Khánh thứ 3 (1507). Ông là chắt của Thánh Tông Thuần hoàng đế, cháu nội của Kiến Vương Lê Tân, con thứ của Cẩm Giang vương Lê Sùng (黎漴), là em cùng mẹ với Chiêu Tông Thần hoàng đế.

Nửa đêm ngày 22 tháng 7, năm 1522, Chiêu Tông do sự trợ giúp của Phạm Hiến, Phạm Thứ, bỏ trốn sang Sơn Tây gọi quân Cần vương. Khi Chiêu Tông lẻn đi chỉ có một số cận thần kịp đi theo, Lê Xuân và mẹ không kịp biết. Mạc Đăng Dung sai thủ hạ Hoàng Duy Nhạc đuổi theo Chiêu Tông nhưng bị Chiêu Tông dùng quân huyện Thạch Thất đánh trả, bắt giết. Thiên tử vuột khỏi tay, Đăng Dung bị mất danh chính, bèn lập ông lên ngôi, lấy niên hiệu là Thống Nguyên (統元).

Bên ngoài, một loạt tướng cần vương kéo đến hưởng ứng Chiêu Tông. Từ lúc đó trong nước tồn tại hai vị hoàng đế, được gọi theo niên hiệu, là Thống Nguyên Đế (統元帝) và Quang Thiệu Đế (光紹帝).

Con bài của Mạc Đăng Dung[sửa | sửa mã nguồn]

Mạc Đăng Dung lấy danh nghĩa Thống Nguyên Đế để đánh nhau với phe Chiêu Tông. Mọi việc trong triều đình Thăng Long đều do Đăng Dung quyết định. Tuy nhiên thanh thế của Chiêu Tông rất lớn, Mạc Đăng Dung yếu hơn phải rút sang vùng Hải Dương phía đông, các xứ phía Nam, Tây, Bắc đều đi theo Chiêu Tông.

Năm 1522, Vĩnh Hưng bá Trịnh TuyThanh Hoá ra cần vương, bất hoà với các tướng Bắc Bộ. Trịnh Tuy mang Chiêu Tông vào Thanh Hoá, ra lệnh các đạo bãi binh. Từ đó các đạo không theo lệnh Chiêu Tông nữa. Hai mãnh tướng Nguyễn Kính, Nguyễn Áng về theo Mạc Đăng Dung. Tình thế bắt đầu thay đổi, Đăng Dung lấy danh nghĩa Thống Nguyên Đế phế Chiêu Tông làm Đà Dương vương (陀陽王), mang quân đánh Chiêu Tông, liên tiếp thắng trận.

Năm 1524, Cung Hoàng ở hành dinh Bồ Đề, tiến phong Mạc Đăng Dung làm Bình chương quân quốc trọng sự thái phó Nhân quốc công. Đăng Dung đánh bại Trịnh Tuy ở Thanh Hoá, Tuy thua trận bỏ chạy rồi chết.

Tháng 10 năm 1525, Đăng Dung dẫn toàn bộ thủy lục quân vào Thanh Hoá, bắt được Chiêu Tông, đem giải về kinh giam lỏng.

Tháng 12 năm 1526, Mạc Đăng Dung sai Bái Khê bá Phạm Kim Bảng bí mật giết Lê Chiêu Tông tại phường Đông Hà, đem chôn ở Vĩnh Hưng lăng, Thanh Đàm.

Bị phế[sửa | sửa mã nguồn]

Chiêu Tông bị giết, vai trò lá chắn của Cung Hoàng không còn. Đăng Dung tính chuyện cướp ngôi nhà Lê, giả cách lui về quê ở Cổ Trai (Hải Phòng) nhưng thực tế vẫn nắm triều đình.

Tháng 4 năm 1527, Cung Hoàng sai Trùng Dương hầu Vũ Hữu, Lan Xuyên bá Phan Đình Tá và Trung sứ Đỗ Hiếu Đễ cầm cờ mao tiết, mũ áo ô lọng, đại ngọc, kiệu tía, quạt vẽ đến Cổ Trai phong Đăng Dung làm An Hưng vương (安興王), Đăng Dung tiếp sứ đoàn ở bến An Tháp, huyện Tân Minh (nay là khu vực Tiên Lãng, Kiến An). Cung Hoàng còn tặng ông ta bài thơ Chu Công giúp Thành vương, ý muốn ông này giúp hoàng đế và triều đình như Chu Công Đán giúp đỡ Chu Thành vương đời xưa. Nhưng Đăng Dung chưa mãn nguyện và không cam chịu làm tước vương.

Ngày 15 tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung từ Cổ Trai vào kinh, bắt Cung Hoàng nhường ngôi. Nhân dân trong kinh đón Đăng Dung vào kinh. Triều thần lúc đó hầu hết đã là người của Đăng Dung hoặc theo Đăng Dung, tự khởi thảo chiếu nhường ngôi.

Mạc Đăng Dung xưng Hoàng đế, tức là Mạc Thái Tổ, lập ra nhà Mạc, lấy niên hiệu là Minh Đức (明德). Cung Hoàng bị giáng xuống làm Cung Vương (恭王) rồi giam cùng với Hoàng thái hậu ở Tây cung.

Vài tháng sau, Mạc Đăng Dung ép mẹ con Cung Hoàng phải tự tử. Thái hậu khấn trời rằng: "Đăng Dung là kẻ bề tôi, manh tâm cướp ngôi, lại giết mẹ con ta, ngày sau con cháu nó cũng lại bị như thế.". Rồi bà tự vẫn chết, Cung Hoàng cũng tự vẫn, năm đó ông 21 tuổi.

Đăng Dung sai đem xác hai người để phơi ngoài quán Bắc Sứ, rồi đưa về chôn ở lăng Hoa Dương, huyện Ngự Thiên (nay là xã Mỹ Xá, huyện Hưng Hà, tỉnh Thái Bình), theo nghi lễ của thiên tử và hoàng hậu.

Gia quyến[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổ phụ: Kiến vương Lê Tân, được tôn phong Đức Tông Kiến hoàng đế (德宗建皇帝).
  • Tổ mẫu: Trịnh Thị Tuyên (鄭氏瑄; 1471 - 1509), tôn phong Huy Từ Kiến hoàng hậu (徽慈建皇后).
  • Thân phụ: Cẩm Giang vương Lê Sùng (錦江王黎漴; ? - 1509), bị Lê Uy Mục giết hại. Về sau được truy phong Minh Tông Triết hoàng đế (明宗哲皇帝).
  • Thân mẫu: Trịnh Thị Loan (鄭氏鸞; ? - 1527), được tôn làm Hoàng thái hậu vào năm 1517. Bà chết cùng ngày với Cung Hoàng. Về sau tôn phong làm Đoan Mục Triết hoàng hậu (端穆慈哲皇后).
  • Hậu phi:
  1. Quý phi Nguyễn thị (贵妃阮氏), người xã Đa Ngưu, huyện Văn Giang, con gái Thông quốc công Nguyễn Thì Ung. Cung Hoàng lên ngôi, đưa vào cung phong làm Quý phi. Bà cùng với vua bị Mạc Đăng Dung giam lại rồi phế truất ở Tây cung. Khi Mạc Đăng Dung cắt giảm không cho ăn uống, Thông quốc công cáo bệnh và rước con gái về, nhưng bà từ chối. Bà nói: Cha ta trăm tuổi đã có anh em; ta hầu vua thì sống chết với vua, không có lý gì mà bỏ về. Cứ như thế, cha bà phải sai nữ hầu bắt bà lên võng. Bà khóc to, những người trông thấy đều thương cảm. Bà về tới nhà, không chịu ăn uống gì rồi chết.
  2. Quý phi Đào thị (贵妃陶氏), con gái Lỵ quốc công Đào Đại La, vào cung cùng Nguyễn Quý phi và được phong Quý phi cùng cấp. Khi vua bị giam, bà cũng bị giam theo, Lỵ quốc công hoảng hốt cáo bệnh và đón con gái về.
  3. Hoàng phi Lãi Bá Trình, khi vua bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi thì bà đang mang thai, chạy trốn theo dòng sông Đáy về ẩn tại làng Mạc Xá tổng Lương Xá - Phủ Ứng Thiên, Huyện Chương Đức, Tỉnh Hà Đông (nay là Lương Xá, Lam Điền, Chương Mỹ, Hà Nội). Bà sau đó hạ sinh được một người con trai đặt tên là Lê Quý Nghi, lập nên chi họ Lê ở làng Lương Xá.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]