Đàm Thận Huy

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Đàm Thận Huy (1463 - 1526) là quan nhà Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.

Mục lục

[sửa] Sự nghệp

Đàm Thận Huy hiệu là Mặc Trai, tự là Mặc Hiên Tứ, thụy là Trung Hiến, người làng Hương Mạc (còn gọi là làng Me), huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Năm 28 tuổi ông thi đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ suất thân năm 1490 đời vua Lê Thánh Tông. Vì giỏi thơ, ông trở thành thành viên hội Tao đàn Nhị thập bát tú[1].

Năm 1510 đời Lê Tương Dực, ông đã từng được triều đình cử đi sứ sang Trung Hoa thời nhà Minh. Ông làm quan đến chức Tán trị công thần Lễ bộ Thượng thư, Tú Lâm Cục kiêm Hàn Lâm Viện Thị Độc trưởng Hàn Lâm Viện Sư, Thiếu bảo Nhập Thị Kinh Diên tước Lâm Xuyên Bá.

Năm 1522, Lê Chiêu Tông trốn khỏi tay quyền thần Mạc Đăng Dung ra ngoài tập hợp tướng sĩ các trấn cần vương, ông nhận được huyết chiếu lui về Bắc Giang mộ binh khởi nghĩa. Đàm Thận Huy trong số các tướng tập hợp được 6.000 nghĩa binh ở vùng Bắc Giang chống lại Mạc Đăng Dung để giúp Chiêu Tông.

Đã có lúc các lực lượng cần vương áp chiếm được ưu thế trước họ Mạc, nhưng vì sau đó nội bộ các tướng lại chia rẽ tranh giành quyền lực. Tướng Trịnh Tuy cướp lấy vua Chiêu Tông chạy vào Thanh Hóa[2]. Các tướng chống họ Mạc ở Bắc Bộ bị chia cắt và cô lập dần. Năm 1525, vua Chiêu Tông bị Đăng Dung bắt từ Thanh Hóa mang về giam lỏng ở kinh thành. Đàm Thận Huy cầm quân ở Bắc Giang, vì quân ít, thế yếu ông đã không địch nổi họ Mạc nên đã tuẫn tiết ở vùng Yên Thế, Thương Hạ (Bắc Giang)[1]. Năm đó Đàm Thận Huy 64 tuổi.

Sau này nhà Lê trung hưng xếp ông vào hàng tiết liệt, Dực vận tán trị công thần, tước phong Thiếu bảo Lâm Xuyên Hầu.

[sửa] Tác phẩm

Tác phẩm tiêu biểu của ông còn để lại cho đời là 12 bài thơ trong Quỳnh uyển cửu ca và chùm thơ ba bài[3].

[sửa] Gia quyến

Em trai Đàm Thận Huy là Đàm Thận Giản đỗ Hoàng Giáp khoa Kỷ Mùi (1499) đời Lê Hiến Tông, làm quan đến Công bộ Thượng thư. Sau con trai Đàm Thận Giản là Đàm Cư, 30 tuổi cũng đỗ Hoàng Giáp[3].

Đàm Thận Huy có vợ cùng hai người con gái là Đàm Thị hiệu Dung Hoa và Đàm Thị hiệu Quế Hoa cùng 38 người làng Hương Mặc theo ông lên vùng Yên Thế (Bắc Giang) chống lại họ Mạc rồi mất ở thôn Cầu Khoai (nay thuộc xã Tam Tiến, huyện Yên Thế)[3].

[sửa] Tiết nghĩa từ

Để tri ân ông, triều đình nhà Lê trung hưng cho xây dựng ở quê ông đền Tiết Nghĩa Từ, vua đã cử bộ Công về xây đền. Năm 1670 vua cho dựng bia đá ghi rõ tài năng, đức độ của ông. Năm 1949 do yêu cầu "tiêu thổ kháng chiến" chống Pháp nên phải tháo gỡ đền đi dấu và phân tán trong rừng. Năm 1962 Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà chỉ thị khôi phục lại đền Tiết Nghĩa Từ trên nền móng cũ. Năm 1999, bộ Văn hoá Việt Nam đã xuất ra kinh phí rất lớn để trùng tu lại Tiết Nghĩa Từ. Hiện nay trong đền thờ ông vẫn còn nhiều tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá, nghệ thuật. Tiết Nghĩa Từ đã được bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng là di tích lịch sử danh nhân văn hoá theo quyết định số 28/BVN ngày 28 tháng 1 năm 1988.

Gia quyến Đàm Thận Huy cũng được dân địa phương lập một đền tôn thờ. Ngôi chùa sau đền gọi là chùa Hoài Âm cũng là để giữ một ý tưởng ôm ấp nhớ về một kỷ niệm đẹp đẽ của hai cô gái họ Đàm trên đất này[3].

[sửa] Xem thêm

[sửa] Tham khảo

[sửa] Chú thích

Công cụ cá nhân
Không gian tên

Biến thể
Tác vụ
Xem nhanh
Tương tác
Công cụ
In/xuất ra