Viện Quân y 103

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bệnh viện Quân y 103
Hoạt động 20/12/1975 (&0000000000000038.00000038 năm, &0000000000000307.000000307 ngày)
Quốc gia  Việt Nam
Phục vụ Flag of Viet Nam Peoples Army.svg Quân đội Nhân dân Việt Nam
Phân loại Bệnh viện (Nhóm 5)
Chức năng Là bệnh viện thực hành của Học viện Quân y
Quy mô 2.000 người
  • 07 Phòng Ban cơ quan
  • 38 Bộ môn, Khoa
Bộ phận của Học viện Quân Y, Bộ Quốc phòng (Việt Nam)
Bộ chỉ huy 160, đường Phùng Hưng, Hà Đông, Hà Nội
Tên khác Bệnh viện 103
Đặt tên theo Bệnh viện 103 từ năm 1995
Các tư lệnh
Giám đốc PGS.TS Hoàng Mạnh An
Chính ủy Nguyễn Mạnh Sử
Huy hiệu
Phù hiệu Vietnam People's Army Medical Corps.jpg

Viện quân y 103 [1] là Bệnh viện 103 thực hành trực thuộc Học viện Quân y, Bộ Quốc phòng Việt Nam. Thành lập vào ngày 20 tháng 12 năm 1950.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội điều trị 3 (tiền thân của Bệnh viện 103) thành lập ngày 20/12/1950 tại thôn Trung Giáp, xã Anh Dũng (nay là xã Trung Giáp), huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ.
  • Tháng 8 năm 1958, theo Quyết định của Tổng cục Hậu cần, Đội điều trị 3 được chuyển thành Viện Quân y 103.
  • Tháng 12 năm 1958 Bộ quốc phòng có quyết định chuyển Viện Quân y 103 thuộc quyền quản lý của Cục Quân y (Tổng cục Hậu cần) về trực thuộc Trường sỹ quan Quân y và trở thành bệnh viện thực hành của Trường
  • Ngày 21 tháng 5 năm 1989 Bộ Tổng tham mưu có Quyết định số 183/QĐ-TM công nhận Viện Quân y 103 là Bệnh viện hạng I của Quân đội. Năm 1995 Viện Quân y 103 được đổi tên thành Bệnh viện 103

Chức năng, nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Huấn luyện lâm sàng, cận lâm sàng cho các đối tượng học viên đại học, sau đại học và trên đại học ngành Y, Dược.
  • Nghiên cứu khoa học phục vụ cho nhu cầu phát triển cho Y học nói chung và Y học Quân sự nói riêng.
  • Khám, chữa bệnh theo tuyến và khu vực cho bộ đội, các đối tượng chính sách, bảo hiểm Y tế và nhân dân; phục vụ tuyến, sẵn sàng ứng cứu các vụ dịch, thảm họa, lũ lụt; đảm bảo quân y đảo Nam Yết (Trường Sa) .

Ban Giám đốc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Giám đốc Bệnh viện: Thiếu tướng PGS.TS. Hoàng Mạnh An.
  • Chính ủy Bệnh viện: Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Sử.
  • Phó Giám đốc Ngoại: Đại tá PGS.TS. Nguyễn Trường Giang.
  • Phó Giám đốc Nội: Đại tá PGS.TS. Nguyễn Thị Oanh Oanh.
  • Phó Giám đốc Y vụ: Đại tá PGS.TS. Nguyễn Văn Khoa.
  • Phó Giám đốc Huấn luyện & NCKH: Thượng tá TS. Trần Viết Tiến

Các phòng ban trực thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phòng Tham mưu Hành chính
  • Phòng Chính trị
  • Phòng Hậu cần
  • Phòng kế hoạch Tổng hợp
  • Phòng Y tá điều dưỡng
  • Ban Giáo vụ
  • Ban Tài chính

Các Bộ môn, khoa[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khoa khám bệnh;
  • Bộ môn-khoa Vi sinh vật;
  • Bộ môn-khoa Hóa sinh;
  • Bộ môn- khoa Chẩn đoán chức năng (C9);
  • Bộ môn-khoa Chẩn đoán hình ảnh;
  • Bộ môn-khoa Giải phẫu bệnh-Pháp y (C6);
  • Bộ môn-khoa Huyết học và Truyền máu;
  • Bộ môn-khoa nội Tiêu hóa (A1;)
  • Bộ môn Tim mạch - Thận - Khớp - Nội Tiết:
- Khoa Tim mạch (A2)
- Khoa Khớp và Nội tiết (A11)
- Khoa Thận và lọc máu nhân tạo (A12)
  • Bộ môn-khoa nội Hô hấp (A3)
  • Bộ môn nội Thần kinh:
- Khoa Thần kinh (A4)
- Khoa Đột quị (A14)
  • Bộ môn-khoa Truyền Nhiễm (A5);
  • Bộ môn-khoa Tâm thần (A6);
  • Bộ môn-khoa Nội dã chiến, huyết học lâm sàng và Bệnh nghề nghiệp (A7);
  • Bộ môn-khoa Da Liễu (A8);
  • Bộ môn-khoa Y học cổ truyền (A9);
  • Bộ môn-khoa Nhi (A10);
  • Bộ môn-khoa Y học hạt nhân (K71);
  • Bộ môn-khoa Vật lý - Trị liệu
  • Bộ môn-khoa ngoại Chấn thương và chỉnh hình (B1);
  • Bộ môn-khoa ngoại Tiêu hóa (B2);
  • Bộ môn-khoa Mắt (B4);
  • Bộ môn-khoa Gây mê (B5);
  • Bộ môn-khoa Tai- Mũi- Họng (B6);
  • Bộ môn-khoa ngoại thận và tiết niệu (B7);
  • Bộ môn-khoa Hàm- Mặt (B8);
  • Bộ môn-khoa ngoại Thần kinh (B9);
  • Bộ môn-khoa Sản và phụ khoa (B10);
  • Bộ môn-khoa Hồi sức cấp cứu (B11);
  • Bộ môn-khoa ngoại Lồng ngực và Tim mạch (B12);
  • Bộ môn-khoa Răng (B14);
  • Bộ môn-khoa ngoại dã chiến (B15);
  • Khoa Cấp cứu lưu (B16);
  • Bộ môn-khoa Dinh dưỡng và tiết chế;
  • Bộ môn Điều dưỡng;
  • Khoa Dược- Bệnh viện 103;
  • Khoa chống nhiễm khuẩn.

Thành tựu khoa học[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ở Việt Nam, lần đầu (tháng 6-1992), Bệnh viện 103 (Học viện Quân y) thực hiện ca ghép thận đầu tiên trên người.
  • Học viện Quân y là nơi thực hiện thành công ca ghép gan trên người đầu tiên tại Việt Nam vào năm 2004.
  • Ngày 1-5-2006, kíp bác sĩ của Học viện vừa thực hiện thành công ca ghép tim đồng loại đầu tiên trên heo.
  • Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ huấn luyện Lâm sàng, cận lâm sàng các bậc đại học, sau đại học ngành Y, Dược Tham gia đào tạo 22.000 Bác sỹ, Dược sỹ, 650 Tiến sỹ, 1.800 Thạc sỹ, 4.200 Chuyên khoa I, chuyên khoa II, 10.000 chuyên khoa định hướng. Huấn luyện bình quân hàng năm 60 lớp, với lưu lượng gần 2000 học viên. Tích cực đầu tư vào công tác nghiên cứu khoa học và phát triển kỹ thuật, đáp ứng nhu cầu gắn kết giữa Đào tạo – Điều trị, đóng góp tích vực cho sự phát triển của ngành Y học nước nhà nói chung và Y học Quân sự nói riêng.

Khen thưởng[2][sửa | sửa mã nguồn]

  • Hai lần danh hiệu Anh hùng LLVTND (1989, 2009)
  • 03 Huân chương Quân công
  • 05 Huân chương Chiến công
  • 01 Huân chương Lao động
  • 04 đơn vị (Bộ môn – khoa Bỏng, Bộ môn Tim – Thận – Khớp - Nội tiết, Bộ môn - Khoa Ngoại bụng, Bộ môn - Khoa Truyền nhiễm) được tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
  • 01 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.
  • 01 cá nhân được tặng danh hiệu Anh hùng lao động

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Học viện Quân y - phần Tổ chức”. 
  2. ^ “Học viện quân y - Viện 103”.