Sikhote-Alin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Miền Trung Sikhote-Alin
Welterbe.svg Di sản thế giới UNESCO
Siberian tiger hanging at bar.jpg
Quốc gia  Nga
Kiểu Tự nhiên
Hạng mục x
Tham khảo 766
Vùng UNESCO Châu Âu
Lịch sử công nhận
Công nhận 2001 (kì thứ 25)

Sikhote-Alin (còn được viết là Sikhotae-Alin) là một dãy núi tại các krai PrimorskyKhabarovsk, Liên bang Nga, kéo dài khoảng 1.200 km về phía đông bắc của hải cảng trên bờ Thái Bình Dương thuộc Nga là Vladivostok. Chiều rộng chỗ lớn nhất đạt tới 250 km. Đỉnh cao nhất là núi Tordoki-Yangi (2.077 m).

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực miền núi này được tạo ra do các nếp uốn thời kỳ Đại Trung sinh trong Vành đai nếp uốn Thái Bình DươngViễn Đông Nga, là đường phân thủy lưu vực sông Amur, biển Nhật Bảnvịnh Tatar.

Cấu tạo địa hình của khu vực là các lớp trầm tích sa thạch-phiến thạch với nhiều đứt gãy, là điều kiện để tồn tại các mỏ vàng, thiếc và nhiều kim loại khác. Trong các lòng chảo kiến tạo tại khu vực Sikhote-Alin có các mỏ than đáthan nâu.

Trong khu vực giáp núi là các cao nguyên bazan. Ở phía nam và phía đông Sikhote-Alin là sơn hệ với các vách núi dốc đứng có độ cao vừa phải, ở phía tây là nhiều thung lũng và lòng chảo chạy dọc theo dãy núi.

Động thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thực vật[sửa | sửa mã nguồn]

Thảm thực vật của Sikhote-Alin khá đa dạng: ở phía nam và phần trung tâm của khu vực miền núi này tới độ cao khoảng 500 m là các cánh rừng lá kim-lá bản rộng với sự chiếm ưu thế của các loài thực vật Mãn Châu, ở phần phía bắc là các rừng lá kim với vân sam (chi Picea) và linh sam (chi Abies). Trên các độ cao lớn hơn thì có thể thấy các đài nguyên núi cao.

Động vật[sửa | sửa mã nguồn]

Sikhote-Alin là một trong những khu vực ôn đới lạ thường nhất trên thế giới. Các loài động vật đặc trưng của rừng taiga miền bắc (chẳng hạn tuần lộc (Rangifer tarandus) và gấu nâu (Ursus arctos)) cùng sinh sống với các loài nhiệt đới, như hổ Amur (Panthera tigris altaica), báo Siberi (Panthera pardus orientalis) và gấu Himalaya. Một lượng lớn động vật hoang dã trong khu vực Sikhote-Alin và Lazo đã được thiết lập sự bảo vệ để bảo tồn cuộc sống hoang dã của chúng.

Di sản thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2001, UNESCO đã đưa Sikhote-Alin vào danh sách Di sản thế giới, đề cập tới tầm quan trọng của nó là cho "...sự tồn tại của các loài đang nguy cấp như vịt hoang Trung Quốc, cú ăn cá Blakiston và hổ Amur".

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các năm từ 1910 - 1930, Sikhote-Alin đã được Vladimir Arsenyev (1872 - 1930) nghiên cứu khá kỹ lưỡng. Ông đã miêu tả các cuộc thám hiểm của mình trong một số cuốn sách, đáng chú ý là cuốn Dersu Uzala (1923), vào năm 1975 đã được Akira Kurosawa chuyển thể thành phim đoạt giải Oscar.

Các bài liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Nga Di sản thế giới tại Liên bang Nga Nga
Di sản văn hóa
Mũi đất Kursh (với Litva) | Tu viện Pherapontov | Nhà thờ Kolomenskoye | Kremli, Kazan | Kizhi | Thành quách, phố cổ và pháo đài Derbent, Dagestan | Các tượng đài tại Novgorod (bao gồm cả Thánh đường Sophia) | Kremli, MoskvaQuảng trường Đỏ | Quần thể Tu viện Novodevichy | Trung tâm lịch sử của Sankt-Peterburg (bao gồm Pavlovsk, Petergophlàng Tsarskoye) | Cảnh quan văn hóa lịch sử của đảo Solovetsky | Vòng cung trắc đạc Struve (chung với 9 quốc gia khác) | Troitse-Sergiyeva Lavra | Các công trình kỉ niệm Vladimir (bao gồm nhà thờ Uspenskii, nhà thờ Pokrova trên Nerli, Cổng Vàng) và Suzdal | Trung tâm lịch sử của Yaroslavl
Di sản tự nhiên
Miền trung dãy Sikhote-Alin | Các ngọn núi vàng của dãy Altai | Hồ Baikal | Uvs Nuur (với Mông Cổ) | Rừng nguyên sinh Komi | Các núi lửa thuộc bán đảo Kamchatka | Tây Kavkaz | Cao nguyên Putorana | Khu vực thiên nhiên đảo Wrangel | Công viên cột thiên nhiên Lena