Đười ươi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pongo
Orangutan.jpg
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primates
Họ (familia) Hominidae
Phân họ (subfamilia) Ponginae
Chi (genus) Pongo
Lacépède, 1799
Loài điển hình
Pongo borneo
Lacépède, 1799 (= Simia pygmaeus Linnaeus, 1760)
Orangutan distribution
Orangutan distribution
Các loài
Danh pháp đồng nghĩa

Faunus Oken, 1816
Lophotus Fischer, 1813
Macrobates Bilberg, 1828

Satyrus Lesson, 1840

Đười ươi là một chi thuộc họ Người (khỉ dạng người loại lớn), thuộc bộ Linh trưởngchâu Á còn tồn tại. Chúng là động vật thuộc loại lớn, sống trên cây nhiều hơn trên mặt đất. Đười ươi là một trong những loài linh trưởng thông minh nhất và có thể sử dụng một loạt các công cụ một cánh tinh vi, cũng như có thói quen làm tổ ngủ mỗi đêm từ các nhánh cây và cây.

Lông của đười ươi thường là màu nâu đỏ, thay vì màu nâu hoặc màu đen đặc trưng của loài khỉ lớn khác. Đười ươi có nguồn gốc từ IndonesiaMalaysia, đười ươi tìm thấy trong khu rừng nhiệt đới trên đảo Borneo và Sumatra, mặc dù các hóa thạch của chúng đã được tìm thấy ở Java, bán đảo Thái Lan, Mã Lai, Việt NamTrung Quốc đại lục. Trong tiếng Mã Lai, đười ươi có nghĩa là " người rừng ".

Có hai loài còn sống sót, cả hai đều đang bị nguy hiểm: Đười ươi Borneo (Pongo pygmaeus) và Đười ươi Sumatra (Pongo abelii). Đười ươi Borneaol à loài bản địa của đảo Borneo. Cùng với đười ươi Sumatra có kích thước nhỏ hơn một chút, nó thuộc về chi duy nhất của khỉ không đuôi lớn có nguồn gốc ở châu Á. Đười ươi Borneao có vòng đời của khoảng 35 đến 40 năm trong tự nhiên, những con đực nặng trên 75 kg trung bình (165 lb), từ. 50–100 kg (110-200 lb), và 1,2-1,4 m (4-4,7 ft); nữ trung bình 38,5 kg (82 lb), dao động 30–50 kg (66-110 lb), và 1-1,2 m (3,3–4 ft)[1][2].

Đười ươi Borneo sống trong rừng lá rộng ẩm nhiệt đới và cận nhiệt đới ở vùng đất thấp Borneo, cũng như khu vực miền núi lên đến 1.500 mét (4.900 ft) trên mực nước biển.[3] Loài này sống trên khắp tán rừng nguyên sinh và thứ sinh, và di chuyển khoảng cách lớn để tìm trái cây.[3]

Nó có thể được tìm thấy trong hai tiểu bang của Malaysia SabahSarawak, và ba trong bốn tỉnh Indonesia của Kalimantan. Do sự phá hủy môi trường sống, sự phân bố loài này bây giờ là rất loan lổ khắp hòn đảo, các loài trở nên hiếm hoi tại phía đông nam đảo, cũng như trong các khu rừng giữa sông Rejang ở trung tâm Sarawak và sông Padas ở phía Tây Sabah.

Đười ươi Sumatra chỉ sinh sống ở đảo Sumatra. Chúng có kích thước 1,4 mét (4,6 ft) và trọng lượng 90 kilôgam (200 lb) trung bình ở con đực. Con cái lớn hơn với kích thước trung bình 90 xentimét (3,0 ft) và nặng 45 kilôgam (99 lb). So với đười ươi Borneo loài này ốm hơn và có khuôn mặt dài hơn; lông của chúng có màu đỏ nhạt. Đây là loài có nguy cơ tuyệt chủng cao.[4]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Wood, The Guinness Book of Animal Facts and Feats. Sterling Pub Co Inc (1983), ISBN 978-0-85112-235-9
  2. ^ “ADW: Pongo pygmaeus: Information”. Animaldiversity.ummz.umich.edu. 28 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2009. 
  3. ^ a ă “Orangutans”. WWF. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2012. 
  4. ^ Primate Info Net: Orangutan Pongo

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Douglas Harper. ""Orangutan" entry in Etymology Online". Retrieved 2012-05-04.
  • Dellios, Paulette. 2008 A lexical odyssey from the Malay World. Journal of Pidgin and Creole Languages 23:1
  • Mahdi, Waruno. 2007. Malay words and Malay things: lexical souvenirs from an exotic archipelago in German publications before 1700. Otto Harrassowitz Verlag, pp 170 – 181
  • Peter Tan (1998). Malay loan words across different dialects of English. English Today, 14, pp 44–50
  • Cannon, Garland. 1992. Malay(sian) Borrowings in English, American Speech Vol. 67, No. 2, pp. 134–162
  • Groves, Colin (2002). "A history of gorilla taxonomy". Gorilla Biology: A Multidisciplinary Perspective, Andrea B. Taylor & Michele L. Goldsmith (editors) (Cambridge University Press) 3: 15–34. doi:10.2277/0521792819.
  • Payne, J; Prundente, C (2008). Orangutans: Behavior, Ecology and Conservation. New Holland Publishers. ISBN 0-262-16253-9.