Sarawak

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sarawak
—  Bang  —
Negeri Kenyalang (Vùng đất của chim mỏ sừng)
Lá cờ Sarawak
Lá cờ
Huy hiệu của Sarawak
Huy hiệu
Biệt danh: Vùng đất của chim mỏ sừng
Khẩu hiệu: "Bersatu, Berusaha, Berbakti"
"Đoàn kết, cần miễn, phụng hiến"
   Sarawak trong    Malaysia
   Sarawak trong    Malaysia
Tọa độ: 3°02′17″B 113°46′52″Đ / 3,03805556°B 113,78111111°Đ / 3.03805556; 113.78111111 sửa dữ liệu
Quốc gia Malaysia sửa dữ liệu
Trực thuộc Malaysia sửa dữ liệu
Thủ phủ Kuching
Tỉnh
Diện tích [1]
 - Tổng 124.450 km² (48.050,4 mi²)
Dân số (2010)[2]
 - Tổng 2.420.009
 - Mật độ 19,4/km² (50,4/mi²)
Mã bưu chính 93xxx đến 98xxx
Mã điện thoại 082 (Kuching), (Samarahan)
083 (Sri Aman), (Betong)
084 (Sibu), (Kapit), (Sarikei), (Mukah)
085 (Miri), (Limbang), (Marudi), (Lawas)
086 (Bintulu), (Belaga)
Website: www.sarawak.gov.my

Sarawak (phát âm tiếng Malay: [saˈrawaʔ]) là một trong hai bang của Malaysia nằm trên đảo Borneo. Sarawak nằm ở phía tây bắc của đảo này, có biên giới quốc nội với bang Sabah ở phía đông bắc, và có biên giới quốc tế với Indonesia ở phía nam, và bao quanh Brunei. Thủ phủ hành chính là Kuching. Trong cuộc điều tra nhân khẩu năm 2010, dân số Sarawak là 2.420.009.[2]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào thế kỷ 15, Sarawak nằm dưới quyền tự quản của Sultan Tengah.[3] Đến đầu thế kỷ 19, Sarawak nằm dưới quyền quản lý lỏng lẻo của Vương quốc Hồi giáo Brunei. Trong thời gian trị vì của Pangeran Indera Mahkota, tại Sarawak xảy ra các hỗn loạn.[4] Năm 1839, Quốc vương Brunei là Omar Ali Saifuddin II (1827–1852) ra lệnh cho Pangeran Muda Hashim phục hồi trật tự và đó cũng là lúc nhà phiêu lưu người Anh James Brooke đến Sarawak. Brooke ban đầu từ chối yêu cầu giúp đỡ nhằm ổn định tình hình của Pangeran Muda Hashim, song chấp thuận vào năm 1841. Pangeran Muda Hashim ký một hiệp định vào năm 1841, theo đó giao lại Sarawak và Sinian cho Brooke. Ngày 24 tháng 9 năm 1841, Pangeran Muda Hashim ban tước Thống đốc cho James Brooke.

James Brooke là Rajah da trắng đầu tiên của Sarawak.

Quốc vương Brunei phong James Brooke làm Raja vào ngày 18 tháng 8 năm 1842. Brooke cai trị và mở rộng lãnh thổ qua các khu vực tây bộ của Sarawak quanh Kuching cho đến khi ông mất vào năm 1868. Sau đó, cháu trai của James Brooke là Charles Anthoni Johnson Brooke trở thành Rajah; con của người này là Charles Vyner Brooke kế vị vào năm 1917, với điều kiện rằng Charles cần phải tham khảo em trai là Bertram Brooke trong việc cai trị.[5] Lãnh thổ Sarawak được mở rộng rất nhiều dưới triều đại Brooke, chủ yếu là tại các khu vực nằm dưới quyền kiểm soát trên danh nghĩa của Brunei.

Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản xâm chiếm Sarawak vào năm 1941. Thời kỳ người Nhật chiếm đóng lãnh thổ này kết thúc vào năm 1945, từ đó nó nằm dưới quyền quản lý của chính phủ quân sự của Anh Quốc. Charles Vyner Brooke chính thức nhượng chủ quyền cho Vương thất Anh Quốc vào ngày 1 tháng 7 năm 1946.

Sarawak chính thức giành được độc lập vào ngày 22 tháng 7 năm 1963, và đến ngày 16 tháng 9 thì hợp nhất với Malaya, Bắc Borneo, và Singapore để hình thành Malaysia,[6][7], bất chấp việc các bộ phận dân cư Sarawak ban đầu phản đối hành động này.[8][9] Sarawak cũng là một điểm nóng trong cuộc đối kháng giữa Malaysia và Inndonesia trong giai đoạn từ 1962 đến 1966.[10][11] Từ năm 1962 đến năm 1990, một cuộc nổi dậy của cộng sản diễn ra tại Sarawak.[12]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Sarawak có diện tích 124.450 kilômét vuông (48.050 sq mi), trải dài từ 0°50′ đến 5°B và 109°36′ đến 115°40′Đ, chiếm 37,5% tổng diện tích của Malaysia. Sarawak cũng có các vùng rừng mưa nhiệt đới rộng, có sự phong phú về các loài thực vật và động vật, song hoạt động khai thác gỗ trở nên nghiêm trọng từ thập niên 1950.

Sarawak trải dài trên 750 kilômét (470 mi) dọc theo đường bờ biển đông bắc của Borneo, bị gián đoạn do 150 kilômét (93 mi) bờ biển của Brunei. Các dãy đồi cao và núi chia tách Sarawak với phần đảo Borneo thuộc Indonesia, chúng là bộ phận của dãy núi trung ương của Borneo. Đỉnh cao nhất tại Sarawak là núi Murud.

Các sông lớn chảy từ nam đến bắc, gồm có sông Sarawak, sông Lupar, sông Saribas, và sông Rajang, trong đó sông Rajang là sông dài nhất tại Malaysia với 563 kilômét (350 mi). Sông Sarawak có diện tích lưu vực 2.459 kilômét vuông (949 sq mi) và là sông chính chảy qua thủ phủ Kuching.

Sarawak có thể được phân thành ba vùng tự nhiên: vùng duyên hải là nơi bằng phẳng với cao độ khá thấp, có các đầm lầy và môi trường ẩm khác với quy mô lớn. Vùng đồi là nơi dễ sinh sống nhất và hầu hết đô thị lớn được xây dựng tại đây. Các cảng Kuching và Suibu được xây dựng trên sông và cách biển một đoạn. Bintulu và Miri nằm gần đường bờ biển, tại nơi mà các đồi trải dài thẳng đến biển Đông. Vùng thứ ba là vùng núi dọc theo biên giới, cũng như là các cao địa Kelabit (Bario), Murut (Ba Kelalan) và Kenyah (Usun Apau) ở phía bắc.

Nhân khẩu[sửa | sửa mã nguồn]

Dân tộc tại Sarawak[13]
Dân tộc Tỷ lệ
Iban
  
29%
Hoa
  
24%
Mã Lai
  
23%
Bidayuh
  
8%
Melanau
  
6%
Orang Ulu
  
5%
Khác
  
5%
Tôn giáo tại Sarawak - 2010[14]
Tôn giáo Tỷ lệ
Ki-tô giáo
  
44.0%
Hồi giáo
  
30.0%
Phật giáo
  
13.5%
Tôn giáo dân gian Trung Hoa
  
6.0%
Khác
  
3.1%
Không tôn giáo
  
2.6%

Theo điều tra nhân khẩu năm 2010, dân số Sarawak là 2.399.839, là bang đông dân thứ tư tại Malaysia.[13] Do có diện tích lớn Sarawak, Sarawak là bang có mật độ dân số thấp nhất tại Malaysia, với 22 người/km². Sarawak cũng nằm trong số các bang có tăng trưởng dân số thấp nhất toàn quốc.

Sarawak có trên 40 phân nhóm dân tộc, mỗi nhóm lại có ngôn ngữ, văn hóa, sinh hoạt riêng biệt. Nhìn chung, các dân tộc lớn tại Sarawak là người Iban, người Hoa, người Mã Lai, người, Bidayuh, người Melanau, người Orang Ulu.[15] Tại các thành phố và thị trấn lớn, cư dân chủ yếu là người Mã Lai, người Melanaus, người Hoa, người Ấn, một số người Iban và Bidayuh cũng di cư từ các làng quê lên thành thị để tìm việc làm. Không giống như tại Indonesia, thuật ngữ Dayak không được sử dụng chính thức để chỉ dân tộc Sarawak bản địa.

Người Iban chiếm tỷ lệ lớn nhất trong tổng dân số Sarawak.[13] Họ là cư dân bản địa tại Sarawak và Sarawak là nơi có số người Iban cao nhất tại Borneo. Phần lớn người Iban hành lễ Ki-tô giáo, song họ vẫn tuân theo các nghi lễ và đức tin truyền thống như hầu hết các dân tộc khác tại Sarawak.

Theo điều tra năm 2010 thì người Hoa chiếm 24% tổng dân số Sarawak[13][15] và họ bao gồm các cộng đồng được hình thành từ các di dân kinh tế trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Người Hoa được phân loại là một dân tộc phi Bumiputera. Người Sarawak gốc Hoa có sự đa dạng về phương ngữ, như tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Châu, tiếng Khách Gia, tiếng Phúc Kiến, tiếng Triều Châu, tiếng Hải Nam, và tiếng Phủ-Tiên. Người Hoa duy trì di sản dân tộc và văn hóa của họ và tổ chức tất cả các lễ hội văn hóa lớn, đáng chú ý nhất là tết Nguyên Đán. Năm 1963, khi Sarawak hợp nhất với Malaya để hình thành Malaysia, hầu hết người Hoa được tự động cấp cho quyền công dân Malaysia trong khi họ có quyền công dân Trung Hoa Dân Quốc.[16]

Người Mã Lai chiếm 23% tổng dân số Sarawak.[13] Hầu hết họ sinh sống tại nam bộ và các khu vực đô thị của Sarawak. Dù vẫn là người Mã Lai, song người Mã Lai Sarawak có văn hóa và ngôn ngữ riêng biệt so với người Mã Lai tại Malaysia Bán đảo. Họ nói tiếng Mã Lai Sarawak, và được phân loại là Bumiputera Sarawak trong Công báo Sarawak.[17]

Năm 2010, nếu không tính người nhập cư ngoại quốc, 44,0% dân số Sarawak là tín đồ Ki-tô giáo, 30% là tín đồ Hồi giáo, 13,5% là tín đồ Phật giáo. Sarawak là bang duy nhất tại Malaysia có số tín đồ Ki-tô giáo vượt trên số tín đồ Hồi giáo. Các giáo phái Ki-tô giáo lớn tại Sarawak là Công giáo La Mã, Anh giáo, Phong trào Giám Lý, Giáo hội Phúc Âm Borneo, Baptit. Nhiều người Sarawak theo Ki-tô giáo là người Bumiputera phi Mã Lai, như người Iban, Bidayuh, Orang Ulu và Melanau. Nhiều người Hồi giáo tại Sarawak đến từ các dân tộc Mã Lai, Melanau, và Kedayan. Tín đồ Phật giáo chủ yếu là người Hoa, người Hoa cũng hành lễ Đạo giáo và tôn giáo truyền thống Trung Hoa, Nhiều người Dayak, đặc biệt là người Iban, vẫn tiếp tục hành lễ tôn giáo dân tộc của họ, đặc biệt là trong hôn lễ và trong các lễ hội mùa vụ và tổ tiên.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

   Limbang

   Miri

   Bintulu

   Kapit

   Sibu

   Mukah

   Sarikei

   Betong

   Sri Aman

   Samarahan

   Kuching

Tỉnh Huyện Phó huyện
Kuching Kuching Siburan, Padawan
Bau
Lundu Sematan
Samarahan Samarahan
Asajaya
Simunjan Sebuyau
Serian Tebedu
Sri Aman Sri Aman Lingga, Pantu
Lubok Antu Engkilili
Betong Betong Pusa, Spaoh, Debak, Maludam
Saratok Roban, Kabong, Budu
Sibu Sibu
Kanowit
Selangau
Mukah Mukah Balingian
Dalat Oya
Daro Belawai
Matu Igan
Miri Miri Subis, Niah-Suai
Marudi Beluru, Long Lama
Bintulu Bintulu Sebauh
Tatau
Limbang Limbang Ng. Medamit
Lawas Sundar, Trusan
Sarikei Sarikei
Meradong
Julau
Pakan
Kapit Kapit Nanga Merit
Song
Belaga Sungai Asap

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Thủ phủ Kuching của Sarawak.

Sarawak có tài nguyên thiên nhiên phong phú, khí hóa lỏng và dầu mỏ từ bang này tạo thành trụ cột cho kinh tế chính phủ liên bang Malaysia trong nhiều thập niên, song Sarawak chỉ nhận được 5% tiền hoa hồng lợi nhuận. Sarawak đứng hàng đầu thế giới về xuất khẩu gỗ cứng nhiệt đới, và có đóng góp lớn vào xuất khẩu của Malaysia. Một thống kê của Liên Hiệp Quốc ước tính rằng xuất khẩu gỗ xẻ của Sarawak đạt mức trung bình 14.109.000 m³ từ năm 1996 đến năm 2000.[18] Du lịch đóng một vai trò quan trọng trong kinh tế Sarawak, bang đón tiếp 4 triệu du khách trong và ngoài nước trong năm 2012.[19] Năm 2010, Sarawak là nền kinh tế lớn thứ ba tại Malaysia sau SelangorJohor, với tổng GDP danh nghĩa là 50.804 triệu Ringgit (16.542 triệu USD).[20] Sarawak là bang có GDP/người cao thứ hai toàn quốc, sau Penang, với 33.307 Ringgit (10.845 USD) vào năm 2010.[21]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Laporan Kiraan Permulaan 2010”. Jabatan Perangkaan Malaysia. tr. 27. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  2. ^ a ă “Laporan Kiraan Permulaan 2010”. Jabatan Perangkaan Malaysia. tr. iv. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  3. ^ Rozan Yunos (28 tháng 12 năm 2008). “Sultan Tengah — Sarawak's first Sultan”. The Brunei Times. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2014. 
  4. ^ [1][[]][liên kết hỏng]
  5. ^ [2][[]][liên kết hỏng]
  6. ^ United Nations list of Non-Self-Governing Territories, North Borneo and Sarawak. Un.org (14 tháng 12 năm 1960). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011.
  7. ^ United Nations Member States. Un.org. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011.
  8. ^ UN General Assembly 15th Session – The Trusteeship System and Non-Self-Governing Territories (pages:509–510). Retrieved on 12 August 2011.
  9. ^ UN General Assembly 18th Session – the Question of Malaysia (pages:41–44). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011.
  10. ^ United Nations Treaty Registered No. 8029, Manila Accord between Philippines, Federation of Malaya and Indonesia (31 tháng 7 năm 1963). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011.
  11. ^ United Nations Treaty Series No. 8809, Agreement relating to the implementation of the Manila Accord. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011.
  12. ^ Chan, Francis; Wong, Phyllis (16 tháng 9 năm 2011). “Saga of communist insurgency in Sarawak”. Borneo Post. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2013. 
  13. ^ a ă â b c “Negeri: Sarawak: Total population by ethnic group, sub-district and state, Malaysia, 2010”. Statistics.gov.my. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2012. 
  14. ^ “2010 Population and Housing Census of Malaysia”. Department of Statistics, Malaysia. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2012.  p. 13
  15. ^ a ă “Christmas Book Festival to be held in East Malaysia”. assistnews.net. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2012. 
  16. ^ Jan Voon, Cham. “Kuomintang's influence on Sarawak Chinese”. University of Malaysia Sarawak (UNIMAS). Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  17. ^ Domination and Contestation: Muslim Bumiputera Politics in Sarawak. 
  18. ^ An overview of forest products statistics in South and Southeast Asia. Fao.org. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2011.
  19. ^ “Kuching to host Routes Asia 2014”. Investvine.com. 5 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2013. 
  20. ^ “GDP by State and Kind of Economic Activity for the year 2010 at Constant Price 2000”. Department of Statistics, Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013. 
  21. ^ “GDP Per Capita by State for the year 2008-2010 at Current Price”. Department of Statistics, Malaysia. Truy cập ngày 15 tháng 1 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Biểu đồ gió biển Đông biển Đông  Brunei Darussalam
 Sabah
Biểu đồ gió
biển Đông B Emblem of North Kalimantan.png Bắc Kalimantan,  Indonesia
T    Sarawak    Đ
N
West Kalimantan Emblem.svg Tây Kalimantan,  Indonesia West Kalimantan Emblem.svg Tây Kalimantan,  Indonesia East kalimantan coa.png Đông Kalimantan,  Indonesia
Enclave: {{{enclave}}}