Quần đảo Andaman và Nicobar
| Andaman and Nicobar Islands | |
| Vị trí của Quần đảo Andaman và Nicobar | |
| Tọa độ (Port Blair): 11°41′B 92°46′Đ / 11,68°B 92,77°ĐTọa độ: 11°41′B 92°46′Đ / 11,68°B 92,77°Đ | |
|---|---|
| Quốc gia | |
| Thành lập | 1/11/1956 |
| Thủ phủ | Port Blair |
| Huyện | 3 |
| Diện tích | |
| - Tổng cộng | 8.250 km² (3.185,3 mi²) |
| Dân số (2011)[1] | |
| - Tổng cộng | 379,944 |
| - Mật độ | 0/km² (0,1/mi²) |
| 46 | |
| HDI | |
| Các ngôn ngữ chính thức | tiếng Hindi, tiếng Anh[2] |
| Website: www.and.nic.in | |
Quần đảo Andaman và Nicobar là một trong bảy lãnh thổ liên bang của Cộng hòa Ấn Độ.
Mục lục |
Địa lý [sửa]
Về mặt địa lý, đơn vị hành chính này thực chất gồm 2 quần đảo riêng cách nhau khoảng 150 km, lần lượt từ bắc xuống nam, là quần đảo Nicobar và quần đảo Andaman. Xét về vị trí địa lý cả hai quần đảo này thường được xem là thuộc Đông Nam Á vì nó gần Đông Nam Á hơn là gần tiểu lục địa Ấn Độ. Điểm cực bắc của lãnh thổ cách cửa sông Hoogly của Ấn Độ 910 km, nhưng cách Myanma chỉ 190 km. Điểm cực nam của lãnh thổ chỉ cách đảo Sumatra của Indonesia có 150 km.
Toàn bộ lãnh thổ gồm 394 hòn đảo trải rộng trong một phạm vi từ vĩ tuyến bắc 6 tới 8 và từ kinh tuyến đông 92 đến 94, nhưng tổng diện tích mặt đất chỉ là 8.249 km2. Chỉ có 38 hòn đảo trong số trên là có người định cư.
Dân cư [sửa]
Lãnh địa này có 356.152 nhân khẩu. Trong đó, người nói tiếng Bengal chiếm 32,6%, nói tiếng Hindi 25,95%, nói tiếng Tamil bao gồm cả tiếng Tamil Sri Lanka 17,84%, tiếng bản địa Nicobar and Telugu 12,93%. Ngoài ra còn có các bộ phân dân cư nói tiếng Malayalam và tiếng Anh. Hầu hết người dân theo đạo Hindu; một ít theo đạo Hồi.[3]
Hành chính [sửa]
Trung tâm hành chính của Quần đảo Andaman và Nicobar đặt ở Port Blair. Đây cũng là đô thị lớn nhất lãnh thổ này. Người lãnh đạo hành chính hiện nay là trung tướng Bhopinder Singh.
Toàn bộ lãnh thổ liên bang này chia thành 3 huyện, gồm:
- Huyện North and Middle Andaman có thủ phủ là Mayabunder
- Huyện South Andaman có thủ phủ là Port Blair
- Huyện Nicobar có thủ phủ là Car Nicobar
Các huyện lại chia thành 7 phó huyện.
Lịch sử [sửa]
Những người dân bản địa thuộc các sắc tộc Nicobar (thuộc nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer) và Shompen (thuộc nhóm ngôn ngữ Đa Đảo) là những người đầu tiên tới định cư ở đây.
Nửa đầu thế kỷ 11, Vua Chola I của Ấn Độ cho chiếm các quần đảo Andaman và Nicobar làm bàn đạp để tấn công Đế quốc Srivijaya.
Thế kỷ 18, Công ty Đông Ấn Đan Mạch chiếm hai quần đảo này. Sau đó, tới năm 1868, Đan Mạch bán lại cho Vương quốc Anh. Anh nhập hai quần đảo này vào Ấn Độ thuộc Anh.[4]
Khi Ấn Độ giành độc lập từ tay Anh, họ tiếp tục kiểm soát hai quần đảo. Ngày nay, người nước ngoài muốn tới Andaman và Nicobar phải xin giấy phép đặc biệt.
Lần động đất và sóng thần Ấn Độ Dương 2004, sóng thần cao 10 mét đã tấn công lãnh thổ này, làm ít nhất 5.930 người thiệt mạng. Đáng ngạc nhiên là rất ít trong số này là người bản địa. Nhờ kinh nghiệm dân gian, người bản địa đã rút lên chỗ cao ngay khi có động đất.[5]
Tham khảo [sửa]
- ^ Census of India, 2011. Census Data Online, Population.
- ^ "Most of Indian languages are spoken in Andaman and Nicobar Islands because of its cosmopolitan nature. The common language is Hindi whereas English and Hindi are used in official correspondence." Andaman District Administration, Profile, Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2007, truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2007
- ^ Số liệu về dân cư là theo tổng điều tra dân số Ấn Độ
- ^ Ramerini, Marco. “Chronology of Danish Colonial Settlements”. ColonialVoyage.com. Truy cập tháng 1 năm 2010.
- ^ “Tsunami folklore 'saved islanders'”. BBC News. 20 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2010.
| Wikimedia Commons có thêm thể loại hình ảnh và tài liệu về Quần đảo Andaman và Nicobar. |
| Các bang và lãnh thổ liên bang ở Ấn Độ |
|---|
|
Các bang Các lãnh thổ liên bang |