Liên bộ Cá đuối

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Siêu bộ Cá đuối)
Bước tới: menu, tìm kiếm
Liên bộ Cá đuối
Thời điểm hóa thạch: 250–0Ma
[1]
Dasyatis americana bonaire.jpg
Cá đuối ó phương nam (Dasyatis americana)
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Chondrichthyes
Phân lớp (subclass) Elasmobranchii
Liên bộ (superordo) Batoidea
Các bộ

Siêu bộ Cá đuối (danh pháp khoa học: Batoidea) là một siêu bộ cá sụn chứa khoảng trên 500 loài đã miêu tả trong 13-19 họ. Tên gọi chung của các loài cá trong siêu bộ này là cá đuối, cá ó, cá đao, nhưng tên gọi cá đuối là phổ biến hơn cả và chủ yếu áp dụng cho các loài cá trong bộ Rajiformes, hay "cá đuối thật sự". Các dạng cá đuối bao gồm cá đuối bông, cá đuối thường, cá đuối điện, cá giốngcá đao.

Giải phẫu[sửa | sửa mã nguồn]

Các loài cá đuối là cá có cơ thể bẹt, và, giống như cá nhám và cá mập, là các loài cá sụn chủ yếu sinh sống ngoài biển, nghĩa là chúng có bộ xương không cấu tạo từ chất xương mà là từ chất sụn cứng và đàn hồi. Phần lớn các loài cá đuối có 5 lỗ huyệt cơ thể giống như khe hẹp ở bụng, gọi là các khe mang dẫn tới các mang, nhưng họ Hexatrygonidae có 6 lỗ huyệt.[2] Các khe mang của các loài cá đuối nằm dưới các vây ngực trên mặt bụng, trong khi ở cá nhám và cá mập thì các khe mang ở hai bên đầu. Phần lớn các loài cá đuối có thân phẳng, giống như cái đĩa bẹt, với ngoại lệ là cá giốngcá đao, trong khi phần lớn các loài cá nhám có cơ thể thuôn động học. Nhiều loài cá đuối có các vây ngực phát triển thành các phần phụ rộng và bẹt, giống như cánh. Chúng không có vây hậu môn. Các mắt và các lỗ thở nằm trên đỉnh đầu.

Hành vi[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn các loài cá đuối sống tại đáy biển, trong các khu vực địa lý khác nhau - nhiều loài trong vùng nước ven bờ, một vài loài tại vùng biển sâu tới độ sâu ít nhất là 3.000 m (9.800 ft), phần lớn các loài cá đuối có sự phân bố rộng khắp thế giới, trong các môi trường nhiệt đới và cận nhiệt đới, ôn đới hay vùng nước lạnh. Chỉ vài loài, như cá ó nạng hải (Manta birostris), là sinh sống ngoài biển khơi, và chỉ vài loài sinh sống trong vùng nước ngọt. Một số loài cá đuối có thể sống trong các vùng nước lợ và cửa sông. Các loài cá đuối sinh sống tại tầng đáy thở bằng cách lấy nước vào thông qua các lỗ thở, chứ không phải thông qua miệng như phần lớn các loài cá khác vẫn làm, và đẩy nước qua các mang ra ngoài.

Thức ăn[sửa | sửa mã nguồn]

Phần lớn các loài cá đuối có các răng phát triển, nặng, thuôn tròn để nghiền mai hay vỏ cuat các loài sinh vật tầng đáy như ốc, trai, hàu, động vật giáp xác, và một vài loài , phụ thuộc vào từng loài. Cá ó nạng hải ăn các thức ăn là động vật phù du.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]



Selachimorpha


voidBatoideavoid
void

Torpediniformes



void

Pristiformes



void

Rajiformes


void

Myliobatiformes






Cây phát sinh loài của siêu bộ Batoidea, theo McEachran và Aschliman (2004)

Phân loại siêu bộ cá đuối hiện tại đang được tích cực sửa đổi. Fishes of the World của Nelson năm 2006 công nhận 4 bộ. Nhóm Sclerorhynchoidea thuộc đại Trung sinhcơ sở hoặc incertae sedis; chúng thể hiện các đặc trưng của bộ Rajiformes nhưng có mõm tương tự như của cá đao.

Bộ Torpediniformes[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bộ Cá đuối điện

Cá đuối điện có các cơ quan phát ra điện trong các tấm vây ức. Các cơ quan này được sử dụng để phóng ra tia điện nhằm làm tê liệt con mồi và để phòng ngự. Dòng điện này đủ mạnh để làm con người bất tỉnh, và những người Hy Lạp cùng La Mã cổ đại sử dụng các loài cá này để điều trị chứng đau đầu.[3]

Bộ Pristiformes[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bộ Cá đao (cá sụn)

Cá đao trông giống như cá mập, có đuôi để bơi và các vây ức nhỏ hơn so với phần lớn các loài cá đuối khác. Các vây ức của chúng gắn với phần trên của mang như ở mọi loài cá đuối khác, làm cho chúng có bề ngoài với đầu rộng. Chúng có mõm dài, phẳng với một hàng các tấm răng ở cả hai hàm. Mõm chúng dài tới 1,8 mét (6 ft), và rộng 30 cm (1 ft), được dùng để chém và xiên qua các con cá nhỏ cũng như để thăm dò trong bùn nhằm tìm kiếm các sinh vật ẩn nấp trong đó. Cá đao có thể tiến vào các sông và hồ nước ngọt. Một vài loài dài tới 6 mét (20 ft).

Bộ Rajiformes[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bộ Cá đuối

Bộ Myliobatiformes[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Bộ Cá đuối ó

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Stevens, J. & Last, P.R. (1998). Trong Paxton, J.R. & Eschmeyer, W.N. Encyclopedia of Fishes. San Diego: Academic Press. tr. 60. ISBN 0-12-547665-5. 
  2. ^ Elasmo-research.org
  3. ^ Bullock Theodore Holmes, Hopkins Carl D., Popper Arthur N., Fay Richard R. (2005). Electroreception. Springer. tr. 5–7. ISBN 0387231927. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]