Trần Văn Thành
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Trần Văn Thành (1820[1] - 1873) còn được gọi là Trần Vạn Thành, Quản Cơ Thành (khi được thăng Chánh quản cơ), hoặc được tín đồ đạo Bửu Sơn Kỳ Hương [2] gọi tôn là Đức Cố Quản, là một lãnh tụ phong trào kháng Pháp ở Bảy Thưa - Láng Linh vào cuối thế kỷ 19 tại An Giang thuộc Nam Bộ, Việt Nam.
Mục lục |
[sửa] Thân thế và gia đình
Trần Văn Thành sinh ở ấp Bình Phú (Cồn nhỏ), xã Bình Thạnh Đông, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang, trong một gia đình trung nông.
Vợ ông tên Nguyễn Thị Thạnh (1825-1899), quê ở rạch Sa Nhiên, Sa Đéc. Bà là người vợ nhân hậu, đảm đang, văn võ đều khá giỏi. Trong công cuộc kháng Pháp của chồng, bà và người con gái thứ năm tên Trần Thị Nên, đã giúp đắc lực, nhất là về việc hậu cần, an ủi và động viên binh sĩ.
Ông Thành và bà có tất cả 6 người con: 3 trai, ba gái. Trừ trai út tên Trạng mất năm 7 tuổi, hai trai còn lại đều khá danh tiếng:
- một tên Trần Văn Nhu (1947-1914), còn gọi là Cậu hai nhà Láng (người miền Nam gọi con đầu lòng thứ hai), người lập ra Bửu Hương tự (tức chùa Láng) và cũng là người kế truyền mối đạo Bửu Sơn kỳ Hương khi cha mất. Khi cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa bị đánh dẹp, ông bị Pháp truy nã rất gắt nên phải lẩn trốn nhiều nơi. Ông mất tại Trà Bang (Rạch Giá).
- hai, tên Trần Văn Chái (1855-1873), bị bắt khi chiến đấu và tự sát trong ngục Châu Đốc.
[sửa] Sự nghiệp
[sửa] Võ quan nhà Nguyễn
Năm 1840, khoảng ngoài 20 tuổi, ông gia nhập quân ngũ giữa lúc Nặc Ông Đôn, em vua Cao Miên khởi quân chống lại cuộc bảo hộ của Việt Nam.
Nhờ có sức khỏe, giỏi võ nghệ, khá thông thạo chữ nghĩa, nên được làm suất đội[3], từng đóng quân ở Chân Lạp (Campuchia). Sau khi lập được nhiều công lao, ông được thăng Chánh quản cơ (1945), chỉ huy khoảng 500 quân, đóng quân ở Châu Đốc, giữ gìn biên giới phía Tây Nam.
Năm 1846, Nặc Ông Đôn qui phục Việt Nam, ông Thành được về nhàn dưỡng tại quê nhà. Năm 1862, Pháp lấn chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Bộ, Trần Văn Thành nhanh chóng hưởng ứng lời kêu gọi chống giặc của triều đình. Ngày 22 tháng 6 năm 1867, một đoàn tàu chiến Pháp do trung tá hải quân GaLey cầm đầu, đến huy hiếp thành Châu Đốc, khiến tổng đốc Phan Khắc Thân phải đầu hàng. Ngày 30 tháng 8 năm 1967, Phan Thanh Giản tuẫn tiết tại Vĩnh Long, sáu tỉnh Nam Kỳ mất hết vào tay Pháp.
[sửa] Chuẩn bị kháng Pháp
Đứng trước tình thế nguy khổn đó, ông tích cực vận động đồng bào, tín đồ Bửu sơn Kỳ Hương[4] cùng quân lính của mình, về Láng Linh - Bảy Thưa gắp rút xây dựng căn cứ, phất cờ khởi nghĩa lấy hiệu là Binh Gia Nghị.
Căn cứ chính của Trần Văn Thành đặt tại Hưng Trung (gần Nam Long Tự, xã Đào Hữu Cảnh, huyện Châu Phú), xung quanh thiết lập các đồn “Hờ” ngăn cản đối phương, như : Đồn Cái Môn ở Cái Dầu, đồn Giồng Nghệ ở Mặc Cần Dưng, trạm canh Ông Tà ở Tri Tôn, đồn Hàng Tràm ở Bình Thạnh Đông...Mỗi đồn đều được trang bị súng thần công, súng điểu thương, hỏa hổ với 150 nghĩa quân phụ trách phòng thủ. Nghĩa quân tổ chức thành nhiều đội. Mỗi đội có người chỉ huy, như đội Nhất có Nguyễn Văn Năng, Lê Văn Vang; đội nhì có Nhiều (Lượng); đội Tư có Đinh Văn Hiệp...Dưới bóng cờ của ông Thành còn có những nghĩa quân tài giỏi khác, như: đội sang, hiệp quản Tú, thư lại Khuê...
Trong Láng Linh có đến 1.200 nghĩa quân, đa số là nông dân yêu nước khắp Nam Kỳ.[5]
[sửa] Mật khu
Thời bấy giờ, Bảy Thưa là một cánh rừng có nhiều cây bảy thưa.[6] nằm liền kề một vùng đất trũng thấp (láng, còn gọi là nê địa), nhiều phèn [7]rộng bao la, không có kênh, rạch lớn ra vào, suốt năm chỉ gieo gặt một mùa lúa sạ. Phía Bắc giáp vùng biên giới núi Sam, phía Tây dựa Thất Sơn, phía Đông cặp sông Hậu, phía Nam giáp núi Ba Thê và Long Xuyên. Ở đó, hằng năm vào những tháng nước lên (còn gọi là “mùa nước nổi” từ khoảng tháng 8 cho đến cuối tháng 10 âm lịch), là một biển nước mênh mông (có thể vì thế có tên gọi Láng Linh). Còn vào mùa khô, nước không cạn hẳn mà biến thành những ao đìa, mương rạch, những đầm lầy vô số đĩa vắt và cùng lau sậy, cỏ dại thi nhau chen chúc, trùm lấp... Hiện nay, cả hai vùng đất này, thuộc huyện Châu Thành, Châu Phú và Tri Tôn.
Nhà Văn Sơn Nam viết về Trần Văn Thành và mật khu này như sau:
- Trần Văn Thành từng tam gia những trận chống quân xâm lược Xiêm, đời Thiệu Trị. Qua đời Tự Đức, thấy sự áp bức của vua quan, ông trở thành tín đồ của Đoàn Minh Huyên, bấy lâu nổi danh với tài trị bệnh, cải cách Phật giáo, bỏ những nghi thức rườm rà, nhằm huy động nông dân chống lại phong kiến...
- Với chí lớn không chút bi quan yếm thế, ông rút lui về Láng Linh để xây dựng mật khu. Từ năm 1871 đến đầu năm 1873, mật khu lần hồi thành hình... Nghĩa quân gồm quân sĩ cựu trào, thêm khá đông người yêu nước từ các tỉnh miền Tiền Giang.
- Khi căn cứ phát triển, hương chức hội tề địa phương cũng ngầm giúp nghĩa quân.
- Do thám báo cáo:
- “đã có chiến hào và đồn lũy nhỏ nhằm án ngữ một đồn lớn, phòng tuyến là những bao gạo, bao muối chồng chất[8], kè cây to, thêm lò đúc súng đạn với gang, sắt từ bên ngoài đưa vào”.
- Ông phong chức cai đội cho nghĩa quân. Mật khu này xưng danh hiệu là “ Thiên sơn Trung tự”, kiểu chùa chiền; quân đội thì lấy tên Gia Nghị cơ hoặc Giang Nghị cơ, khiến ta liên tưởng đến những đồn điền tổ chức thời Nguyễn Tri Phương, vùng biên giới.[9]
[sửa] Pháp tấn công
Năm 1868, cuộc khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực bị dẹp tan, Trần văn Thành trở thành nhân vật bị Pháp truy nã gắt gao, treo giải thưởng. Năm 1871, một cộng sự của Pháp là Trần Bá Lộc thử hành quân vào mật khu, nhưng chẳng thâu được kết quả do sình lầy, bốn phía lau sậy mù mịt, thỉnh thoảng bị phục kích.
Nhà văn Sơn Nam kể:
- Tháng 2 năm 1872, Pháp bắt được một nghĩa quân đi mộ lính ở Long Xuyên. Và nhờ cai tổng Mun theo sát những người đặt lọp, giăng câu phía ngọn Mặc Cần Dưng (nay là Bình Hòa, Châu Thành, An Giang), nên đến gần mật khu. Hắn hoảng hốt khi thấy nghĩa quân tích cực củng cố công sự, lò đúc súng đang hoạt động ngày đêm...
- Tháng 6 năm 1872, quân pháp mở cuộc tấn công vào Bảy Thưa. Pháp dùng thuyền nhỏ từ Long Xuyên tiến vào rạch Mặc Cần Dưng (nay thuộc xã Bình Hòa, huyện Châu Thành) đánh đồn Giồng Nghệ và chiếm được đồn này trong nửa tháng, nhưng sau phải rút lui vì không chịu nổi kiểu đánh du kích của nghĩa quân.
[sửa] Trận đồn Hưng Trung
| Trận đồn Hưng Trung | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
|
Một phần của Lịch sử Việt Nam
|
|||||||
Rạch Bảy Thưa, (gần) khu vực diễn ra trận đánh
|
|||||||
|
|||||||
|
Tham chiến
|
|||||||
| Pháp | Nghĩa quân kháng chiến Việt Nam | ||||||
|
Chỉ huy
|
|||||||
| Emile Puech Trần Bá Tường đại úy Guyon phó quản Hiếm |
Trần Văn Thành | ||||||
|
Lực lượng
|
|||||||
| 100+ Có pháo binh hỗ trợ[9] |
400 đến 500 người[10] | ||||||
|
Thương vong
|
|||||||
| không rõ | không rõ | ||||||
[sửa] Khởi đầu
Khởi đầu, chủ tỉnh Long Xuyên tên Emile Puech xin cấp trên chi viện thêm 40 lính Mã tà[11] từ Cần Thơ để tăng cường cho 60 Mã tà dưới quyền, đồng thời thông báo chủ tỉnh Châu Đốc, tùy khả năng mà hiệp đồng. Phó quản Hiếm trước kia từng ở hàng ngũ của Trần Văn Thành rồi đầu hàng, được cầm đầu toán lính nhỏ. Cánh quân mạnh nhất do phủ Trần Bá Tường (em ruột Trần Bá Lộc) chỉ huy...Còn chủ tỉnh Emile Puech là chỉ huy trưởng, đại úy Guyon làm trợ lý.
Tháng giêng năm 1873, Pháp sai cộng sự là Tôn thọ Tường ra lời dụ hàng, nhưng không thuyết phục được Trần Văn Thành[12], vì vậy Pháp buộc phải đánh tiếp.
[sửa] Trận chiến cuối cùng
Ngày 19 tháng 3 năm 1873, tàu chiến Pháp đậu tại vàm rạch Mặc Cần Dưng, rồi cho quân lính dùng xuồng nhỏ, tuyệt đối im lặng, tiến vào ngọn rạch. Một hai ngày sau, biết được đối phương sắp tấn công, tiếng trống, tiếng kẻng của nghĩa quân bắt đầu khua và liên tục vang rền...
Nhà văn Sơn Nam viết:
- “Tuy biết đang bị bao vây tứ phía và người Pháp có võ khí hữu hiệu, nhưng nghĩa quân và Trần Văn Thành vẫn bình tĩnh, cương quyết đối phó. Đứng sau phòng tuyến thách thức bọn Pháp. Ông dùng loa chửi rủa thậm tệ, rồi day về phía nghĩa quân để động viên tinh thần.
- Đến phút quyết liệt, ông mặc áo màu đỏ sậm (màu tấm trần điều mà đạo Lành đang thờ phượng)và cắt từng lọn tóc của mình phân phát cho nghĩa quân (một kiểu giống như phù phép, cốt để thuộc hạ lên tinh thần).” [9]
Phạm Văn Sơn ghi chuyện:
- Đầu tháng hai 1973, Pháp xua quân vào phá đồn Hờ ở Cái Dầu, uy hiếp đồn Giồng Nghệ[13] rồi kéo dần vào rừng. Họ nả đại bác lên phía trước và bắt dân chúng dọn đường sau. Quân Bảy Thưa tuy tinh thần rất cao, nhưng chống giữ không nổi. Qua 5 ngày chiến đấu, quân Bảy Thưa lui dần. Pháp không dám tiến mau vì ngột nắng và sợ đĩa. Ngày 20 tháng 2, quân Pháp từ Châu Đốc đánh vào đồn Cái Môn, súng quân Việt bắn không được xa, phát nổ phát không nên chẳng bao lâu Pháp quân tràn vào được.
- Cùng ngày ấy từ phía Vĩnh Thanh, cờ Pháp tiến vào đuổi quân Việt tới ngọn rạch Hang Tra là nơi Trần Văn Thành chỉ huy chiến cuộc. Con thứ tư của ông Thành là Trần Văn Chái làm tiên phong, đề đốc Văn (tức đội Văn hay đội Chín) giữ hậu tập. Đến gần tối thì Chái bị thương ở đùi.[14], Văn tử trận…
- Xong trận, Pháp thu hết các súng nặng, nhẹ; hủy hết cả lò đúc đạn dược, rồi nổi lửa đốt hết doanh trại của nghĩa quân 3 ngày mới tăt…”[10]
Sau trận đánh, chủ tỉnh Emile Puech nhận xét:
- “Cai tổng Lý Mun và Trần Bá Tường[15], từng tham gia đánh nhiều lần, nhưng trong trận này, quả là mất tinh thần. Họ gan lỳ khi bị bao vây, hứng chịu hỏa lực mạnh, chứng tỏ uy tín Trần Văn Thành khá lớn”[9]
[sửa] Hy sinh
Ông Trần Văn Thành hy sinh vào ngày 21 tháng 3 năm 1873, trong trận đồn Hưng Trung.
Theo Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế:
- Sau khi “Bản doanh Hưng Trung bị tàn phá, thất bại nặng, ông Thành rút lui vào chiến khu và mất ngày 21 tháng 2 âm lịch năm 1873.[16]
G.S Trịnh Vân Thanh ghi:
- Sau ngày bản doanh bị chiếm, không ai biết Trần Văn Thành đã đi đâu...[17]
Có người phỏng đoán:
- Ngày 20 tháng 3 năm 1873 (21 tháng 2 âm lịch), quân Pháp tấn công vào đồn Hưng Trung là tổng hành dinh của nghĩa quân do Trần Văn Thành chỉ huy. Ông và các nghĩa quân của mình đã xả thân chiến đấu, nhưng chỉ cầm cự được đến tối thì thất thủ. Giặc Pháp không tìm được thi thể ông, nhưng có lẽ ông đã hi sinh trong trận chiến này. [18]
Nhà văn Sơn Nam không nói Trần Văn Thành chết lúc nào, lý do gì; ông chỉ cho biết:
- Pháp “ đem xác Trần Văn Thành chưng bày tại chợ Cái Dầu (Châu Phú, Châu Đốc), thêm xác của đội Văn (Pháp ghi là Vang) để nhằm ngăn chận những tin đồn thất thiệt cho rằng ông còn sống, đi lánh mặt và tiếp tục kháng chiến.[19]
Tương truyền, năm 1873, có hai người từ Huế theo ghe bầu vào Nam rồi tìm đến tận căn cứ Bảy Thưa. Họ mang theo một đạo sắc phong nói là của vua Tự Đức ân ban cho Quản Cơ Thành. Nhưng họ có ngờ đâu chỉ còn trông thấy mấy đống tro tàn cùng tiếng gió rì rào trên những ngọn bảy thưa... [20]
[sửa] Nhận xét
Nhận xét về con người Trần Văn Thành, đối phương viết:
- Vóc to lớn, mạnh khỏe, gương mặt nghiêm nghị, nhìn thấy là phải kính trọng và ngưỡng mộ, Ông hăng hoạt động, rất thông minh. Ông lập ra một đạo gọi là đạo Lành. Trong hầu hết các tỉnh ở đất Gia Định đều có tín đồ. Tín đồ từ các nơi vì tôn kính ông nên tới mật khu, mang theo nào lúa gạo, sắt (để rèn khí giới)...
- Và khi đề cập cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa, nhiều sử gia đều đánh giá cao, vì:
- -Việc tổ chức khá khoa học, với công sự, kho lương thực; đặc biệt là đúc súng ống tại chỗ, tuy súng hãy còn thô sơ, kiểu “ống lói”.
- -Biết dùng hình thức tôn giáo để qui tụ quần chúng và che mắt thực dân.
- -Trần Văn Thành thấy rõ tương lai dân tộc ở hành động cụ thể là phải chống ngoại xâm, không thể ngồi khoanh tay chờ núi Cấm nứt ra “ bất chiến tự nhiên thành”. Thái độ của ông và nghĩa quân là “chiến đấu không thỏa hiệp”.[9]
[sửa] Tưởng nhớ
Nho sĩ Cao Văn Cảo, người cùng thời, có thơ tưởng niệm ông.
Vô danh dịch:
| “ |
|
” |
Ngoài những dinh và đền thờ ở nhiều nơi, như: Bửu Hương Tự, Dinh Hưng Trung, Dinh Sơn Trung... tên ông còn được đặt cho trường học, đường phố trong tỉnh An Giang.
[sửa] Ảnh
[sửa] Xem thêm
[sửa] Tham khảo chính
-
- Nguyễn Văn Hầu, Đức Cố Quản hay cuộc khởi nghĩa Bảy thưa, NXB Tân Sanh, Sài Gòn, 1956, tr.85.
- UBND tỉnh An Giang, Địa chí An Giang tập I, 2003, tr.245.
- Sơn Nam, Lịch sử An Giang, NXB Tổng hợp An Giang, 1988
- Hỏi đáp lịch sử tập 4 ,NXB Trẻ, 2007.
- Nguyễn Quang Thắng và Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1992.
[sửa] Chú thích
- ^ Năm sinh theo Hỏi đáp lịch sử tập 4 (NXB TRẻ, 2007)
- ^ Đạo 'Bửu Sơn Kỳ Hương còn được gọi là đạo Lành.
- ^ Suất đội chỉ huy khoảng 50 lính
- ^ Chưa biết Trần Văn Thành trở thành đệ tử Phật Tầy tây An, người sáng lập đạo Bửu Sơn Kỳ Hương khi nào, chỉ biết ông là một người rất có uy tín trong giáo phái
- ^ Phạm Văn Sơn cho biết thêm: Số quân của ông Thành theo tờ trình của Pháp vào năm 1870 có khoảng 1200 quân. Nhưng sau khi càn quét Hưng Trung doanh, chủ tỉnh Long Xuyên Emile Puech ước lượng số nghĩa quân chỉ chừng 400 đến 500 người, đa số là tín đồ theo đạo Bửu Sơn kỳ hương.(Việt sử tân biên, Sài Gòn, 1962, tr.211)
- ^ Bảy thưa là một thứ cây ưa mọc đất thấp, cội to, lá nhỏ mà dài. Giống cây này giờ đây đã dần mất bóng, ngay tại dinh Sơn Trung, một đồn binh của Trần Văn Thành, nay chỉ còn 3 bụi cây non nhỏ nhoi.
- ^ Có thể nói Trần Văn Thành là người đầu tiên dám nghĩ đến việc canh tác ở vùng trũng phèn này (theo Lịch sử An Giang, NXB Tổng hợp An Giang, 1988, tr.68-71)
- ^ Ở xa, do thám nhìn lầm, thực ra chỉ là những vỏ bao đựng gạo muối được đổ đầy đất
- ^ a b c d e Lịch sử An Giang, NXB Tổng hợp An Giang, 1988, tr.68-71
- ^ a b Hỏi đáp lịch sử tập 4 (NXB Trẻ, 2007), tr.211.
- ^ Người Mã Lai (Malais) gọi người lính cảnh sát là matamata. Do đó đẻ ra danh từ "mã tà" (Vương Hồng Sển, Sàigòn năm xưa, NXB Xuân Thu, 1968, tr. 229)
- ^ Nhân dân còn truyền tụng đôi câu thơ của ông: Thà thua xuống láng, xuống bưng. Kéo ra đầu giặc lỗi chưng quân thần.
- ^ Đồn Giồng Nghệ thất thủ vì sự nội phản của một binh sĩ Miên tên Tol. Thư lại Phạm Văn khuê bị Pháp bắn chết trong cuộc nội phản, từ đó lực lượng bắt đầu suy yếu. (Nguyễn văn Hầu, Nửa tháng trong miền Thất Sơn, NXB Trẻ, 2006, tr.217)
- ^ Sau khi bị thương, Trần Văn Chái bị bắt. Hay tin con bị thực dân dụ hàng, bà vợ Quản Cơ Thành liền nhét một con dao, kèm theo một bức thư giấu bên trong đòn bánh tét, ý khuyên con phải cố giữ khí tiết. Năm ngày sau khi nhận thư, người con tự tử trong nhà ngục Châu Đốc, bỏ lại người yêu vừa mới hứa hôn, năm ấy Chái mới 18 tuổi.
- ^ Nguyễn Văn Hầu trong sách đã dẫn, viết Trần Bá Lộc có tham gia trận này là nhầm.
- ^ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, NXB KHXH, Hà Nội, 1992.
- ^ Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển quyển I, Sài Gòn, 1966, tr.328
- ^ Theo web[1].
- ^ Hỏi đáp lịch sử tập 4 (NXB Trẻ, 2007) tương đồng với ý kiến của Sơn Nam. Dù vậy, cho đến nay, nhiều người theo giáo phái Bửu Sơn kỳ hương vẫn tin rằng ông Thành không thể bị Pháp giết chết. Dọ hỏi, không ai biết mộ ông Thành và cậu Chái ở đâu. Trong khu mộ của dòng họ Trần ở gần chùa Bửu Hương tự, chỉ có mộ vợ con ông là Nguyễn Thị Thạnh, Trần Văn Nhu, không có mộ của hai người.
- ^ Nguyễn văn Hầu, sách đã dẫn, tr. 221.
[sửa] Liên kết ngoài
- Cuộc khởi nghĩa Bảy Thưa Sơn Nam
- Quản cơ Trần Văn Thành Trên Việt kiếm
- Quản cơ Trần Văn Thành Trên web An Giang.
- Vị trí đồn Hưng Trung trên web Thư viện Hoa Sen.
| Một số nhân vật lịch sử liên quan đến An Giang | |
|---|---|
| Nguyễn Hữu Cảnh • Thoại Ngọc Hầu • Nguyễn Văn Tuyên • Đoàn Minh Huyên • Trần Văn Thành • Ngô Lợi • Phật Trùm • Trần Hữu Thường • Nguyễn Chánh Sắt • Đạo Tưởng... |

