Alexandre Yersin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Alexandre Yersin

Alexandre Yersin
Sinh 22 tháng 9, 1863(1863-09-22)
Aubonne, Vaud, Thụy Sĩ
Mất 1 tháng 3, 1943 (79 tuổi)
Nha Trang, Việt Nam
Quốc tịch Pháp-Thụy Sĩ
Ngành vi khuẩn học
Nơi công tác École Normale Supérieure
Nổi tiếng vì Yersinia pestis,
Tìm ra Cao nguyên Lâm Viên

Alexandre Émile Jean Yersin (22 tháng 9 năm 1863 tại Aubonne, Tổng Vaud, Thụy Sĩ - 1 tháng 3, 1943 tại Nha Trang, Việt Nam) là bác sĩ y khoa, nhà vi khuẩn học, và nhà thám hiểm người Pháp.

Yersin đã tìm ra trực khuẩn gây bệnh dịch hạch, sau này được đặt theo tên ông (Yersinia pestis).

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Yersin là con út trong gia đình có ba người con. Họ là thành viên Giáo hội Tin Lành Cải cách bang Vaud (L'Église évangélique réformée du canton de Vaud). Mẹ ông là hậu duệ của những người HuguenotCévennes phải đào thoát khỏi nước Pháp để tránh bị bức hại tôn giáo sau khi Louis XIV ra Chỉ dụ Fontainbleau năm 1685 thu hồi Chỉ dụ Nantes do Henri IV ban hành năm 1598. Lúc ấy bang Vaud còn thuộc lãnh thổ Savoie, sau giành được độc lập ngày 24 tháng 1 năm 1798 và gia nhập Thụy Sĩ ngày 14 tháng 4 năm 1803.

Thân phụ ông, giáo viên môn khoa học tự nhiên tại những trường trung học ở Aubonne và Morges, qua đời chỉ ba tuần lễ trước khi Yersin chào đời.[1] Mẹ ông một mình nuôi ba con (Emily, Franck, và Alexandre), dời đến sinh sống ở Morges.

Từ năm 1883 đến 1884, Yersin theo học y khoa tại Lausanne, Thụy Sĩ; sau đó tại Marburg, Đức, rồi đến Paris, Pháp (1884-1886). Năm 1886, ông gia nhập viện nghiên cứu của Louis Pasteur tại Trường Sư phạm Paris (École Normale Supérieure) do lời mời của Émile Roux, và đã tham gia việc phát triển huyết thanh ngừa bệnh dại. Năm 1888 ông nhận bằng tiến sĩ với luận án Étude sur le Développement du Tubercule Expérimental (Nghiên cứu về sự phát triển của bệnh lao bằng thực nghiệm) và cộng tác với Robert Koch trong hai tháng tại Đức. Ông gia nhập Viện Pasteur ở Paris mới được thành lập vào năm 1889 làm người cộng tác với Roux và hai người đã cùng khám phá ra độc tố bạch hầu (do trực khuẩn Corynebacterium diphtheriae tạo ra).

Đến Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Để hành nghề y tại Pháp, Yersin đã xin lại và nhận được quốc tịch Pháp vào năm 1888. Sau đó (1890), ông rời Pháp đến Đông Dương (lúc bấy giờ là thuộc địa của Pháp) để làm bác sĩ trong công ty Messageries Maritimes (Vận tải Hàng hải) trên tuyến đường Sài Gòn-Manila và sau đó tuyến đường Sài Gòn-Hải Phòng. Quyết định của Yersin rời bỏ môi trường học thuật tại Paris để đến một xứ thuộc địa khiến bạn hữu và đồng sự kinh ngạc.[2][3]

Yersin tại Cao nguyên Lâm Viên, năm 1893

Với nhiệm vụ kiểm tra sức khỏe thủy thủ đoàn và cấp giấy chứng nhận y tế, Yersin có nhiều thì giờ nhàn rỗi để học hỏi về hàng hải và hải đồ dưới sự chỉ dẫn của thuyền trưởng. Kiến thức thu lượm được trong những chuyển hải hành giúp ích cho ông trong công cuộc thám hiểm trong nội địa Đông Dương sau này.[4]

Thám hiểm[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1891, Yersin xin thôi việc ở Messageries, quyết định đến sống tại Nha Trang, và bắt đầu thực hiện kế hoạch thám hiểm vùng cao nguyên Trung Việt, khi ấy còn là một vùng đất hoang dã và tiềm ẩn nhiều hiểm nguy. Muốn tìm một con đường bộ vào Sài Gòn, Yersin đi ngựa đến Phan Rí, thuê người dẫn đường vào rừng, ông tìm ra cao nguyên Di Linh,[5] nhưng không thể đi tiếp, phải trở lại Phan Thiết, rồi lấy thuyền về Nha Trang.[1]

Ngày 23 tháng 9 năm 1892, đoàn thám hiểm gồm bảy thành viên dưới sự lãnh đạo của Yersin khởi hành từ Nha Trang ra Ninh Hòa rồi lên Ban Mê Thuột, đến Stung Treng bên bờ sông Mekong, về Phnom Penh rồi theo đường thủy ra Phú Quốc về cảng Sài Gòn. Yersin chụp ảnh, vẽ họa đồ, và khảo sát phong tục tập quán các bộ tộc sinh sống trong vùng ông đi qua.[1]

Tháng 6 năm 1893, với sự ủy thác của Toàn quyền Đông Dương Jean-Marie de Lanessan, Yersin tổ chức đoàn thám hiểm có bốn người Việt theo đường bộ từ Biên Hòa ra Đồng Nai, lên Di Linh, cuối cùng khám phá Cao nguyên Lâm Viên. Trong nhật ký đề ngày 21 tháng 6 năm 1893, Yersin ghi nhận có vài làng của người sắc tộc D'Lat[6] nằm rải rác trong vùng, "Từ trong rừng thông bước ra tôi sững sờ khi đối diện một bình nguyên hoang vu giống như mặt biển tràn đầy những làn sóng màu xanh lá cây. Sự hùng vĩ của rặng Langbiang hòa lẫn vào đường chân trời tây bắc tạo nên bối cảnh tráng lệ, gia tăng vẻ đẹp của vùng đất này."[7] Đến năm 1899, tại vùng đất được Yersin khám phá, Toàn quyền Paul Doumer cho thiết lập một khu nghỉ dưỡng cho người Âu châu, sau trở thành Đà Lạt.[1]

Cuối năm 1893 có thêm một cuộc thám hiểm của Yersin, khởi hành từ Biên Hòa lên Đà Lạt, đi tiếp đến cao nguyên Đắk Lắk, vào Attopeu ở nam Lào, rồi đi theo hướng đông ra biển. Yersin đến Đà Nẵng vào ngày 17 tháng 5 năm 1894. Cuộc khảo sát lần thứ ba này thăm dò một vùng đất rộng lớn trải rộng từ vĩ tuyến 11 ở phía nam đến vĩ tuyến 16 ở phía bắc, và từ sông Mekong ở phía tây đến bờ biển Việt Nam ở phía đông.[7] Trang nhật ký ngày 11 tháng 4 của Yersin ghi, "Đường đi thật là khủng khiếp. Trong 4 ngày liên tiếp, chúng tôi phải vượt qua một vùng núi hiểm trở, trèo xuống, leo lên, cứ đơn điệu như thế mãi làm cho chúng tôi rất mệt mỏi. Cây cối chen chúc. Không có đường mòn. Chúng tôi phải khòm lưng chui qua các bụi tre. Vì trời mưa nên rừng có nhiều vắt không thể tả được. Những người Việt Nam đi cùng với chúng tôi bị sốt rét mặc dầu đã uống thuốc ngừa..."[1]

Nghiên cứu bệnh dịch hạch[sửa | sửa mã nguồn]

Tượng Alexandre Yersin,
Bảo tàng Y khoa Hồng Kông

Năm 1892, ít lâu sau vụ thám hiểm lần thứ nhất, theo lời khuyên của Albert Calmette, Yersin gia nhập đoàn y sĩ hải ngoại để khỏi phải lo lắng về mặt tài chính.[1] Sau 28 năm phục vụ, năm 1920 ông về hưu với cấp bậc Đại tá Quân y.

Trong khi Yersin đang chuẩn bị cho cuộc thám hiểm thứ tư thì bệnh dịch đã bộc phát ở miền Nam Trung Hoa và lan truyền xuống Đông Dương. Năm 1894, dịch phát mạnh tại Hồng Kông, gây tử vong cao. Nhà cầm quyền thuộc địa cử Yersin đến Hồng Kông để nghiên cứu bệnh dịch.[4]

Ngày 15 tháng 6 năm 1894, Yersin đặt chân đến Hồng Kông, ba ngày sau khi Kitasato đến đây cũng để nghiên cứu về bệnh dịch. Với sự hỗ trợ dồi dào từ người Anh, Kitasato lập một phòng thí nghiệm trong bệnh viện Kennedy Town, Yersin được phép đến quan sát nhóm Kitasato làm việc. Năm ngày sau, Yersin quyết định hoạt động độc lập, ông nhờ người mua tử thi để khám nghiệm, và tìm ra nguyên nhân của bệnh này.[4]

Bởi vì những tường trình ban đầu của Kitasato còn mơ hồ và đôi khi có những mâu thuẫn, nhiều người tin rằng Yersin là người duy nhất tìm ra trực khuẩn.[8][9] Tuy nhiên, một cuộc phân tích hình thái học về những gì Kitasato khám phá cho thấy "Kitasato đã khảo nghiệm trực khuẩn gây bệnh ở Hồng Kông vào cuối tháng 6 và đầu tháng 7 năm 1894", chỉ một thời gian ngắn sau khi Yersin công bố khám phá của ông (ngày 20 tháng 6). Do đó, "không thể bác bỏ sự đóng góp" của Kitasato.[10] Cũng nên biết rằng, trực khuẩn gây bệnh phát triển tốt hơn trong môi trường nhiệt độ thấp, vì vậy, phòng thí nghiệm được trang bị kém của Yersin lại có lợi thế hơn trong cuộc chạy đua với Kitasato.

Yersin cũng là người lần đầu tiên chứng minh rằng trực khuẩn hiện diện ở chuột bệnh và người bệnh là một, nhờ đó ông đã giải thích được phương thức truyền bệnh. Cũng trong năm ấy, khám phá này được cộng tác viên Émile Duclaux gửi đến Viện Hàn lâm Khoa học Pháp trong bài báo nhan đề La Peste Bubonique de Hong-Kong (Bệnh dịch hạch ở Hồng Kông).

Từ năm 1895 đến 1897, Yersin nghiên cứu thêm về bệnh dịch hạch. Năm 1895 ông trở về Viện Pasteur tại Paris và cùng với Émile Roux, Albert CalmetteArmand Borrel đã điều chế ra huyết thanh chống bệnh dịch hạch đầu tiên. Cùng năm đó, ông trở về Đông Dương và lập một phòng thí nghiệm nhỏ tại Nha Trang để sản xuất huyết thanh, (năm 1905 viện này trở thành một chi nhánh của Viện Pasteur). Năm 1896, ông thành lập trại chăn nuôi Suối Dầu, nuôi ngựa để sản xuất huyết thanh. Năm 1896 tại Quảng ChâuMa Cao, và tại Bombay trong năm 1897, Yersin đã thử nghiệm huyết thanh gởi đến từ Paris nhưng huyết thanh không có hiệu quả.

Trường Y khoa Đông Dương[sửa | sửa mã nguồn]

Yersin quyết định ở lại sinh sống tại Việt Nam, đất nước mà ông yêu mến. Năm 1902, Yersin hoạt động tích cực để thành lập École de Médecine de l’Indochine (Trường Y khoa Đông Dương) là tiền thân của Đại học Y Hà Nội, ông được bổ nhiệm làm hiệu trưởng đầu tiên cho đến năm 1904.[11]

Trường khai giảng ngày 1 tháng 3 năm 1902, năm học đầu tiên có 29 sinh viên, 15 người đến từ Bắc Kỳ, 5 từ Trung Kỳ, 8 từ Nam Kỳ, và 1 từ Cao Miên. Tất cả đều được nhận học bổng 8 đồng mỗi tháng.[12] Ông có công di chuyển trường khỏi làng Kinh Lược, cho xây dựng ngôi trường ở phố Bobillot (Lê Thánh Tông ngày nay), và xây dựng bệnh viện thực hành ở phố Lò Đúc.[11]

Nông nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà riêng của Yersin tại Nha Trang, nay là Nhà nghỉ Bộ Công An.

Yersin cũng tham gia lĩnh vực nông nghiệp, và là người đi đầu trong việc nhập cây cao su từ Brasil vào trồng tại Việt Nam. Vì lý do này ông đã xin phép Toàn quyền thành lập một nông trại ở Suối Dầu. Ông cũng mở một trại ở Hòn Bà năm 1915, nơi ông đã gây dựng những đồn điền canh-ki-na đầu tiên ở Việt Nam (nhập từ Nam Mỹ) để sản xuất ký ninh chữa bệnh sốt rét.

Từ trần[sửa | sửa mã nguồn]

Trong thời gian diễn ra Đệ nhị thế chiến, ngày 1 tháng 3 năm 1943, Yersin từ trần tại nhà riêng ở Nha Trang, ông để lại di chúc, "Tôi muốn được chôn ở Suối Dầu. Yêu cầu ông Bùi Quang Phương giữ tôi lại tại Nha Trang, đừng cho ai đem tôi đi nơi khác. Mọi tài sản còn lại xin tặng hết cho Viện Pasteur Nha Trang, và những người cộng sự lâu năm. Đám táng làm giản dị, không huy hoàng không điếu văn."[1] Dù vậy, rất đông người tìm đến để đưa tiễn ông về nơi an nghỉ cuối cùng.

Di sản[sửa | sửa mã nguồn]

Yersin để lại nhiều ký ức sâu đậm tại Việt Nam, nơi người dân trong vùng gọi ông cách thân mật là Ông Năm, theo cấp bậc Đại tá Quân y (quân hàm có năm gạch ngang).

Năm 1891, khi đặt chân đến Nha Trang, Yersin yêu mến vùng đất này, và quyết định lưu trú tại đây. Trong một lá thư gởi Émile Roux, ông viết, "Hãy đến đây với tôi, ông sẽ biết ở đây thú vị như thế nào, thời tiết không nóng nhiều, cũng không lạnh lắm, một khung cảnh thanh bình tuyệt đối và nhiều công việc cần làm."[13] Ông sống gần gũi với cư dân trong vùng, và tận tụy giúp đỡ những ngư dân nghèo khó trong xóm chài nhỏ bé. Ông sống trong một ngôi nhà cổ ba tầng, trên tầng thượng ông đặt kính thiên văn để quan sát báo bão cho làng chài.[1] Khi có bão, ông gọi dân làng đến trú ngụ ở nhà ông, và cung cấp thực phẩm cho họ.[14] Ông khám bệnh miễn phí cho người nghèo. Ông viết cho mẫu thân, "... không bao giờ con có thể đòi tiền người bệnh cho việc chăm sóc họ. Con coi y khoa như là một chuyên môn và là một mục vụ. Đòi tiền để chăm sóc bệnh nhân chẳng khác nào nói với người đó rằng: tiền hay mạng sống."[7]

Ngoài vi khuẩn Yersinia pestis được đặt tên để vinh danh Yersin, có nhiều địa danh tại Việt Nam được đặt tên theo ông.

Tại Hà Nội[15], Đà Nẵng[16], Nha Trang[15], Đà Lạt[17],Thủ Dầu Một[18] và Thành phố Hồ Chí Minh[19] đều có những con đường được đặt tên để vinh danh Yersin.

Tọa lạc bên trong khuôn viên Viện Pasteur Nha Trang là Bảo tàng Yersin, nơi lưu trữ nhiều kỷ vật của Yersin.[20] Công viên Yersin nằm dọc theo bờ biển Nha Trang, với tượng Yersin cao 4m, là một thắng cảnh của thành phố.[21] Phần mộ của Yersin tại Suối Dầu (cách Nha Trang 20 km) hằng năm có nhiều người đến viếng. Theo tập quán đối với người có công và được nhiều người yêu quí, người dân xây cho ông một miếu thờ.[22] Năm 1990, quần thể mộ Yersin ở Suối Dầu và thư viện Yersin ở Viện Pasteur Nha Trang được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia; đây được xem là "trường hợp duy nhất nước Việt Nam cấp bằng chứng nhận di tích lịch sử cấp Quốc gia cho một người nước ngoài".[23] Làng Tân Xương ở Suối Dầu còn thờ cúng ông như một thành hoàng.[24]

Lycée Yersin,
nay là Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt.

Một ngôi trường - khởi công xây dựng năm 1927 và khai giảng năm 1935 - được đặt theo tên Yersin để vinh danh ông. Lycée Yersin (nay là Trường Cao đẳng Sư phạm) là một kiến trúc đẹp và độc đáo của Đà Lạt.[25][26] Tại thành phố này, cũng mang tên ông còn có Công viên Yersin,[27] và một ngôi trường thành lập năm 2004, Đại học Yersin.

Yersin được trao tặng Bắc Đẩu Bội tinh, huân chương cao quý nhất của nước Pháp.

Năm 1934 ông được đề cử làm giám đốc danh dự của Viện Pasteur Paris, và là ủy viên Ban quản trị.

Tác phẩm Peste et choléra (Dịch hạch và thổ tả) của nhà văn Patrick Deville nói về cuộc đời của Yersin đoạt giải Femina năm 2012.[28] Hội Ái mộ Yersin, được thành lập năm 1992 với hơn 700 hội viên, với mục đích hoạt động giúp đỡ người nghèo và trẻ em khuyết tật cũng như truyền bá về thân thế và sự nghiệp của Yersin[29], là tổ chức phi chính phủ duy nhất ở Việt Nam nhận Huân chương Lao động.[30][31]

Ngày 20 tháng 9 năm 2013, nhân kỷ niệm 150 năm ngày sinh của Yersin, Tổng công ty Bưu chính Pháp đã phối hợp với Viện Pasteur Paris, Viện Hàn lâm Khoa học Hải ngoại Pháp và Đại sứ quán Việt Nam tại Pháp tổ chức lễ phát hành hai mẫu tem chung Việt Nam và Pháp về Alexandre Yersin.[32][33] Bộ Tư pháp Việt Nam cũng đề xuất việc truy tặng danh hiệu Công dân danh dự Việt Nam cho Yersin.[34]

Chuyện bên lề[sửa | sửa mã nguồn]

  • Từ khi sống xa nhà cho đến khi mẹ ông mất năm 1905, Yersin thường xuyên viết thư cho mẹ. Với khoảng 1 000 lá thư, chúng ta biết nhiều chi tiết về cuộc đời cống hiến của ông, cũng có thể nhận thấy nét hóm hỉnh của nhà khoa học trong lá thư ông gởi từ Hồng Kông, "Con còn nhiều điều nữa muốn thưa với mẹ, nhưng có hai xác chết đang chờ con. Họ muốn ra nghĩa địa cho sớm. Tạm biệt mẹ thân yêu. Mẹ rửa tay sau khi đọc thư này kẻo bị lây dịch hạch, mẹ nhé."[1]
  • Tháng 11 năm 1920, khi đáp tàu Paul Lecat đi Marseille, Yersin bị ngăn không được vào phòng ăn trên tàu vì không đeo cà vạt. Ông quay về phòng rồi trở lại, hỏi người phục vụ, "Chiếc cà vạt này cậu có chấp nhận không?", vừa nói vừa chỉ tay vào cổ áo nơi ông đeo tấm huân chương Bắc Đẩu bội tinh.[1]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ e ê g Văn Bá. “Bác sĩ Alexandre - Người có công với Việt Nam”. Cỏ Thơm. 
  2. ^ BÁC SĨ ALEXANDRE YERSIN NGƯỜI CÓ CÔNG VỚI VIỆT NAM
    Yersin thường tâm sự, "Tôi luôn luôn mơ ước khám phá nơi nầy nơi nọ và đi thám hiểm. Khi ta còn trẻ không có gì là không thể được."
  3. ^ Alexandre Yersin
    Sau khi Yersin rời Paris, Louis Pasteur viết trong nhật ký vào ngày 21 tháng 10 năm 1890, "Sự thôi thúc đi đến các quốc gia xa xôi thình lình cuốn hút Yersin, và không có cách nào để giữ anh ở lại với chúng ta."
  4. ^ a ă â Nguyễn Văn Tuấn. “Alexandre Yersin và Việt Nam”. YkhoaNet. 
  5. ^ Theo dấu Yersin
  6. ^ Nguồn gốc địa danh Đà Lạt. Có ba giả thuyết:
    * Yersin đã chọn cho thành phố xinh đẹp này một câu châm ngôn đầy ý nghĩa như các thành phố châu Âu bằng tiếng La tinh: DAT ALLIS LAETITUM ALLIIS TEMPERRIEM (Cho người này niềm vui, cho người kia sự mát lành). Năm chữ cái đầu tiên của năm từ ghép lại thành DALAT.
    * Năm 1956, khi ký sắc lệnh số 143/NV ngày 20/10/1956 đổi tên các tỉnh miền Nam, Tổng thống Ngô Đình Diệm muốn đổi tên các tỉnh, thành phố có ý nghĩa theo tiếng Hán - Việt. Do vậy, có một nhà nghiên cứu ở miền Nam giải thích: Do phát âm sai nên "Đa" biến thành "Đà", "Lạc" biến thành "Lạt". Thật ra, là "Đa Lạc", theo tiếng Hán - Việt: "Đa" là nhiều, Lạc là niềm vui. "Đa Lạc" nghĩa là "nhiều niềm vui".
    * Đà Lạt có gốc từ "Dà Làc", phát âm theo tiếng dân tộc là "Đaq Lạch". "Đạ" là nước, suối, sông. "Lạch" (Lạt) là tên của một bộ tộc người thiểu số đã chọn khu rừng thưa trên cao nguyên Lang Bian (Lâm Viên) để cư trú.
  7. ^ a ă â “Alexandre Yersin”. Thư viện Tin Lành. 
  8. ^ Howard-Jones, Norman (1973). “Was Shibasaburo Kitasato the Co-Discoverer of the Plague Bacilllus?”. Perspectives in Biology and Medicine (Winter): 292–307. 
  9. ^ Solomon, Tom (5 tháng 7 năm 1997). “Hong Kong, 1894: the role of James A Lowson in the controversial discovery of the plague bacillus.”. Lancet 350 (9070): 59–62. doi:10.1016/S0140-6736(97)01438-4. 
  10. ^ Bibel, DJ; Chen, TH (September năm 1976). “Diagnosis of plaque: an analysis of the Yersin-Kitasato controversy.”. Bacteriological Reviews 40 (3): 633–651, quote p. 646. PMC 413974. PMID 10879. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  11. ^ a ă “Hiệu trưởng tiền nhiệm các thời kỳ”. Trường Đại học Y Hà Nội. 
  12. ^ Lịch sử Trường Y khoa Hà Nội
  13. ^ Thăm bảo tàng Alexandre Yersin ở Nha Trang
  14. ^ Alexandre Yersin trong ký ức “người bạn nhỏ thân thiết”
  15. ^ a ă Việt Phong (14 tháng 4 năm 2010). “Nhà bác học Yersin”. Sở khoa học và Xã hội thành phố Hà Nội. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  16. ^ Lê Gia Lộc (15 tháng 12 năm 2012). “Hồ sơ tên đường: A. Yersin, người vẽ lại bản đồ y học thế giới”. Báo Đà Nẵng. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2103. 
  17. ^ Lâm Viên (13 tháng 7 năm 2013). “Sáu tuyến đường sắt ở Đà Lạt”. Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  18. ^ “Chùa ở Bình Dương”. ChuaBinhDuong.Com. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  19. ^ “Đường Yersin quá nhếch nhác”. Báo Công An TPHCM. 28 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  20. ^ Bảo tàng Yersin
  21. ^ Thêm một địa điểm gợi nhớ về ông Năm
  22. ^ Viếng mộ bác sĩ Yersin
  23. ^ Anh Hùng (2 tháng 3 năm 2013). “Ở Việt Nam, ông Năm Tây vẫn luôn hiện diện”. Pháp luật Xã hội. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013. 
  24. ^ Nguyễn Đình (19 tháng 4 năm 2011). “Theo ông Năm Yersin lên Suối Dầu”. Sài Gòn Tiếp thị. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  25. ^ LYCÉE YERSIN XƯA- CAO ĐẲNG SƯ PHẠM NAY
    Ngày 28 tháng 6 năm 1935, trong lễ khai giảng khóa học đầu tiên, Yersin đã phát biểu: "... Các em làm tôi nhớ đến việc phát hiện ra cao nguyên Lang Bian vào tháng 6 năm 1893 trong một cuộc tìm kiếm, nghiên cứu nhằm mục đích khai phá một vùng rừng núi phía Nam Trung phần cho đến lúc đó vẫn chưa ai biết... Các em muốn đặt cho trường trung học đẹp đẽ này cái tên của người sống sót cuối cùng của phòng thí nghiệm Pasteur. Tôi xin cảm ơn các em".
  26. ^ Trường Cao đẳng Sư phạm Đà Lạt
  27. ^ Công viên Yersin Đà Lạt
  28. ^ Trần Huyền Sâm (23 tháng 2 năm 2013). “Alexandre Yersin qua tiểu thuyết Dịch hạch và thổ tả”. Sức khỏe & Đời sống. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  29. ^ Nhân Tâm (15 tháng 3 năm 2013). “Địa chỉ tin cậy của bệnh nhân nghèo”. Báo Khánh Hòa. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013. 
  30. ^ Nguyễn Đình Quân (3 tháng 5 năm 2008). “Hội Ái mộ Yersin nhận Huân chương Lao động hạng Ba”. Tiền phong. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  31. ^ “Tập đoàn Vingroup tài trợ Hội Ái mộ Yersin làm từ thiện”. Quân đội nhân dân. 25 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2013. 
  32. ^ Phát hành bộ tem chung Pháp-Việt về Alexandre Yersin
  33. ^ Phát hành đặc biệt bộ tem chung Việt - Pháp Đại sứ quán Pháp tại Hà Nội
  34. ^ Nguyễn Đình Quân (20 tháng 9 năm 2013). “Truy tặng A. Yersin danh hiệu Công dân danh dự”. Tiền phong. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2013. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh[sửa | sửa mã nguồn]

  • Barrett, O. (May năm 1989). “Alexandre Yersin and recollections of Vietnam”. Hosp. Pract. (Off. Ed.) 24 (5A): 13. PMID 2498345. 
  • Bendiner, E. (March năm 1989). “Alexandre Yersin: pursuer of plague”. Hosp. Pract. (Off. Ed.) 24 (3A): 121–8, 131–2, 135–8 passim. PMID 2494200. 
  • Haubrich, William S. (January năm 2005). “Yersin of Yersinia infection”. Gastroenterology 128 (1): 23. doi:10.1053/j.gastro.2004.11.040. PMID 15633119. 
  • Holubar, K. (1999). “Alexandre Yersin (1863-1943) and the centenary of the plague in Nha Trang: A threat transformed”. Dermatology (Basel) 198 (1): 108–9. doi:10.1159/000018052. PMID 10026422. 
  • Howard-Jones, N. (April năm 1975). “Kitasato, Yersin, and the plague bacillus”. Clio medica (Amsterdam, Netherlands) 10 (1): 23–7. PMID 54239. 
  • Moseley, J. E. (1981). “Travels of Alexandre Yersin: letters of a pastorian in Indochina, 1890-1894”. Perspect. Biol. Med. 24 (4): 607–18. PMID 7027173. 
  • Rosenberg, J. C. (February năm 1968). “Doctors afield: Alexandre Yersin”. N. Engl. J. Med. 278 (5): 261–3. doi:10.1056/NEJM196802012780507. PMID 4865333. 
  • Solomon, T. (June năm 1995). “Alexandre Yersin and the plague bacillus”. The Journal of tropical medicine and hygiene 98 (3): 209–12. PMID 7783282. 

Tiếng Pháp[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bernard, L. (May năm 1994). “[Memories of Monsieur Yersin]”. Revue médicale de la Suisse romande 114 (5): 439–44. PMID 8016523. 
  • Bonard, E. C. (May năm 1994). “[The plague and Alexander Yersin (1863-1943)]”. Revue médicale de la Suisse romande 114 (5): 389–91. PMID 8016516. 
  • Bonard, E. C. (December năm 1972). “[Two letters from Alexandre Yersin]”. Revue médicale de la Suisse romande 92 (12): 995–1000. PMID 4578823. 
  • Bonifas, V. (May năm 1984). “[Alexandre Yersin (1863-1943)]”. Revue médicale de la Suisse romande 104 (5): 349–51. PMID 6379813. 
  • Brossollet, J. (May năm 1994). “[Correspondence of Alexander Yersin to his family]”. Revue médicale de la Suisse romande 114 (5): 445–50. PMID 8016524. 
  • Delaveau, P.; Clair G. (1995). “[Production of cinchona in the French empire: A. Yersin and E. Perrot]”. Revue d'histoire de la pharmacie 42 (304): 75–84. PMID 11640400. 
  • Patrick Deville, Peste et choléra, éditions du Seuil, collection « Fiction & Cie », 2012 (ISBN 978-2-02-107720-9).
  • Dreifuss, J.-J. (May năm 1994). “[Discoveries and deceptions: Yersin from Hong Kong to Stockholm]”. Revue médicale de la Suisse romande 114 (5): 425–8. PMID 8016521. 
  • Fantini, B. (May năm 1994). “[A young Pasteur scientist with Koch: Yersin, 1888]”. Revue médicale de la Suisse romande 114 (5): 429–37. PMID 8016522. 
  • Kupferschmidt, H. (May năm 1994). “[Development of research on plague following the discovery of the bacillus by Alexander Yersin]”. Revue médicale de la Suisse romande 114 (5): 415–23. PMID 8016520. 
  • Mafart, Y. (1965). “[Alexandre Yersin (1863-1943)]”. Médecine tropicale: revue du Corps de santé colonial 25 (4): 427–38. PMID 5320482. 
  • Pilet, P. E. (May năm 1994). “[Yersin Senior and son. From biology to medicine]”. Revue médicale de la Suisse romande 114 (5): 405–14. PMID 8016519. 

Ngôn ngữ khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bockemühl, J. (April năm 1994). “[100 years after the discovery of the plague-causing agent--importance and veneration of Alexandre Yersin in Vietnam today]”. Immun. Infekt. 22 (2): 72–5. PMID 7959865. 
  • Raggenbass, R. (1995). “[Blackwater fever: a French episode drawn from the research of Alexandre Yersin]”. Gesnerus 52 (3-4): 264–89. PMID 8851059. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Việt:

Tiếng Anh

Tiếng Pháp