Hành chính Việt Nam thời Nguyễn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Loạt bài
Lịch sử hành chính Việt Nam
Bản đồ Việt Nam

Hồng Bàng

An Dương Vương

Bắc thuộc lần I (207 TCN - 40)
Bắc thuộc lần II (43 - 541)
Tiền Lý và Triệu Việt Vương (541 - 602)
Bắc thuộc lần III (602 - 905)
Tự chủ (905 - 938)
Nhà Ngô (938 - 967)
Nhà Đinh (968 - 980)
Nhà Tiền Lê (980 - 1009)
Nhà Lý (1009 - 1225)
Nhà Trần (1225 - 1400)
Nhà Hồ (1400 - 1407)
Bắc thuộc lần IV (1407 - 1427)
Lê sơ (1428 - 1527)
Nam Bắc triều (1527 - 1592)
Trịnh Nguyễn phân tranh (1593 - 1786)
Nhà Tây Sơn (1778 - 1802)
Nhà Nguyễn (thời độc lập) (1802 - 1884)
Pháp thuộc (1884 - 1945)
Thời kì Chiến tranh Đông Dương (1945 - 1975)
   Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
   Việt Nam Cộng hòa
   Cộng hòa Miền Nam Việt Nam
Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (từ 1976)

Xem thêm

sửa

Hành chính Việt Nam thời Nguyễn phản ánh bộ máy cai trị từ trung ương tới địa phương của chính quyền nhà Nguyễn trong thời kỳ độc lập (1802-1884).

Bộ máy cai trị của nhà Nguyễn kể từ thời Minh Mạng được đánh giá là khá hoàn chỉnh, đánh dấu thời kỳ hưng thịnh[1].

Chính quyền trung ương[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệu kỳ hoàng đế nhà Nguyễn từ 1802 đến 1885
Phẩm phục của một viên quan nhỏ triều Nguyễn-Hình vẽ của họa sĩ Pháp E. Ronjat tại Huế (1874)

Nhà Nguyễn về cơ bản vẫn giữ nguyên hệ thống quan chế và cơ cấu chính quyền trung ương giống như các triều đại trước đó. Đứng đầu nhà nước là vua, nắm mọi quyền hành trong tay. Có 3 tổ chức cao nhất mang tính chất tư vấn là "tứ trụ đại thần", Cơ mật viện và Nội các. Tứ trụ đại thần nằm trong Hội đồng quyền nhiếp, tạm thay khi vua vắng mặt, gồm 4 vị: Đông các điện đại học sĩ, Cần chánh điện đại học sĩ, Văn minh điện đại học sĩ và Võ hiển điện đại học sĩ.

Cơ mật viện do Minh Mạng lập ra, phỏng theo Khu mật viện nhà Tống và quân cơ xứ nhà Thanh bên Trung Quốc, mục tiêu như lời Minh Mạng nói khi thành lập nhằm "để gặp có việc quân, việc nước to lớn sẽ có chỉ dụ chọn các quan đại thần sung vào để tỏ ý thận trọng". Quan chức Cơ mật viện có hàm tam phẩm trở lên, nhưng thường trực chỉ có một viên Ngoại lang (tòng ngũ phẩm)[2].

Giúp vua giải quyết giấy tờ, văn thư và ghi chép có Văn thư phòng (năm 1829 đổi là Nội các). Biên chế Nội các gồm có 4 vị quan chức từ Tam phẩm trở xuống, thuộc các Bộ, Viện đưa sang làm việc. Có 2 người nữa lấy từ Thị lang các Bộ hoặc Chưởng viện học sĩ sung vào làm Thượng bảo thiếu khanh cùng 28 hành tẩu giúp việc. Trong Nội các có Thượng bảo tào, Ty luân tào, Bản chương tào. Năm 1823 đổi tên thành 4 Sở: Thượng bảo, Ty luân, Bá thư và Bản chương.

Bên dưới, triều đình lập ra 6 Bộ - đây là cơ quan thực sự điều hành bộ máy nhà nước[2]. Đứng đầu mỗi bộ là quan Thượng Thư chịu trách nhiệm chỉ đạo các công việc chung của Nhà nước. Các bộ có chức năng như sau[3]:

  • Bộ Lại: lo việc thăng giáng các quan trong kinh ngoài trấn, chỉnh đốn phương pháp làm quan giúp chính sự trong nước
  • Bộ Lễ: giữ trật tự 5 lễ hài hòa giữa thần và người, trên và dưới, giúp việc lễ trong nước, lo những việc lớn như: lễ nghi, giáp dục và đối ngoại
  • Bộ Hình: Lo việc pháp luật, làm án để nghiêm phép nước
  • Bộ Hộ: lo nắm giữ các chính sách điền thổ, hộ khẩu, tiền thóc trong nước, cân đối việc phát ra, thu vào để điều hòa nguồn của cải trong nước
  • Bộ Binh: lo việc tuyển dụng, bổ nhiệm các chức võ quan trong ngạch, khảo duyệt vũ khí, lương thực để giúp chính trị trong nước
  • Bộ Công: lo việc thợ thuyền, đồ dùng trong thiên hạ, phân biệt vật hạng, xét rõ tài liệu để sửa sang việc nước.

Thượng thư các Bộ nằm trong "cửu khanh" quan trọng nhất của triều đình và thường kiêm nhiệm các việc khác. Bên cạnh 6 Bộ còn có Đô sát viện (tức là Ngự sử đài bao gồm 6 khoa) chịu trách nhiệm thanh tra quan lại, Hàn lâm viện phụ trách các sắc dụ, công văn, Tự phụ trách một số sự vụ, phủ Nội vụ coi sóc các kho tàng, Quốc tử giám phụ trách giáo dục, Thái y viện chịu trách nhiệm về việc chữa bệnh và thuốc thang,... cùng với một số Ti và Cục khác.

Chính quyền địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Cải cách hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

An Nam Đại Quốc Họa Đồ (Bản đồ nước An Nam to lớn), bản đồ vẽ bởi giáo sĩ Jean-Louis Taberd thời gian ông ở Việt Nam thời vua Minh Mạng. Ấn hành trong sách Dictionarium Latino-Annamiticum completum et novo ordine dispositum (Từ điển Việt-La) năm 1838.

Việc xây dựng chính quyền ở địa phương là một khó khăn về chính trị đối với triều Nguyễn, một nguyên do là qua quá trình chia cắt đất nước lâu dài thì mỗi miền, cụ thể là Bắc HàNam Hà có sự phân chia hành chính khá khác nhau. Khi mới lên ngôi, vua Gia Long vẫn giữ nguyên cách phân chia hành chính cũ: ở Đàng Ngoài các cấp hành chính là trấn->phủ->huyện->xã; ở Đàng Trong là trấn->dinh->huyện->xã. Ít lâu sau, tổng trở thành một cấp trung gian giữa huyện và xã. Năm 1802, trong khi đã quyết định Phú Xuân là quốc đô, ông vẫn tạm đặt 11 trấn phía Bắc (tương đương khu vực Bắc Bộ ngày nay) thành một Tổng trấn với tên cũ Bắc Thành, do một Tổng trấn đứng đầu.

Đến thời Minh Mạng, để nhất thể hóa các đơn vị hành chính trong cả nước, năm 1831-1832 nhà vua thực hiện một cuộc cải cách hành chính lớn, theo đó bỏ các tổng trấn, đổi các dinh, trấn thành tỉnh và đây là lần đầu tiên đơn vị hành chính tỉnh xuất hiện ở Việt Nam[4][5].

Cả nước được chia thành 31 đơn vị hành chính: Phủ Thừa Thiên (còn gọi là Quảng Đức) là trung tâm, các trấn (tên đơn vị hành chính thời Hậu LêTây Sơn) được đổi thành 30 tỉnh. Việc lập các tỉnh được thực hiện trong 2 đợt. Đợt đầu tiên vào năm 1831, Minh Mạng thực hiện chia các trấn phía bắc làm 18 tỉnh[5] (trong đó 13 tỉnh thuộc Bắc Kỳ và 5 tỉnh thuộc Trung Kỳ (5 tỉnh này còn gọi là hữu kỳ)):

  • 5 tỉnh thuộc Trung Kỳ:
  1. Quảng Bình
  2. Quảng Trị (trong đó có 9 châu ky my trong tỉnh là Mang Vanh, Na Bôn, Thượng Kế, Tâm Bồn (này là Champhone), Mang Bổng, Ba Lan (nay là Thaphalanxay), Tá Bang (nay là Thapangthong), Xương Thịnh, Làng Thìn (nay khoảng Nong, Phine đầu nguồn sông Thạch Hãn[6]) sau đó trở lại lãnh thổ Lào[7], 9 châu này nay là đất thuộc tỉnh Savannakhet). (Champhone (Chầm Bồn, Tầm Bồn), Outhoomphone (Mường Phon, Mường Bổng), (Nong, Phine) (Mường Phin, Làng Thìn, Lang Thìn), Sepone (Cha Bon, Na Bôn), Songkhone (Thương Kế), Thapangthong (Phá Băng, Tá Bang), Thaphalanxay (Ba Lan), Vilabuly (Vanh, Mường Vanh), Xonbuly (Xương Găm, Xương Thịnh)).
  3. Hà Tĩnh (gồm cả đất Trấn Tĩnh (Đông Khammuane), Lạc Biên (Nam Khammuane) nay thuộc Lào)
  4. Nghệ An (gồm cả đất Trấn Ninh (Xiengkhuang), Trấn Biên (Nam Huaphanh), Trấn Định (Borikhamxay, Bắc Khammuane) nay thuộc Lào)
  5. Thanh Hóa (gồm cả đất Trấn Man (Bắc Huaphanh) nay thuộc Lào)
  • 13 tỉnh Bắc Kỳ:
  1. Ninh Bình (nay là đất Ninh Bình và một phần Hòa Bình)
  2. Nam Định (gồm cả đất Thái Bình và Nam Định ngày nay)
  3. Hà Nội (nay là đất các tỉnh thành Hà Nội, Hà Nam)
  4. Hưng Yên
  5. Hải Dương (gồm cả đất Hải PhòngHải Dương ngày nay)
  6. Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay)
  7. Sơn Tây (nay là đất thuộc các tỉnh thành Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hòa Bình, Phú Thọ)
  8. Bắc Ninh (nay là Bắc NinhBắc Giang, một phần đất Hà NộiVĩnh Phúc này nay)
  9. Tuyên Quang (nay là đất các tỉnh Tuyên Quang, Yên Bái, Hà Giang)
  10. Hưng Hóa (nay là đất các tỉnh Phú Thọ, Hòa Bình, Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai)
  11. Thái Nguyên (nay là đất các tỉnh Thái NguyênBắc Kạn)
  12. Lạng Sơn
  13. Cao Bằng

Sang năm 1832 Minh Mạng lại sắp xếp các trấn phía nam thành 12 tỉnh[8]:

Bản đồ Nam Kỳ Lục tỉnh giai đoạn (1841-1862).

Tả Kỳ (thuộc Trung Kỳ)

  1. Quảng Nam (nay là Quảng Nam và Đà Nẵng)
  2. Quảng Ngãi
  3. Bình Định
  4. Phú Yên
  5. Khánh Hòa (gồm cả Bắc Ninh Thuận)
  6. Bình Thuận (gồm cả Nam Ninh Thuận)

Nam Kỳ Lục Tỉnh

  1. Phiên An (tức Gia Định)
  2. Biên Hòa
  3. An Giang
  4. Vĩnh Long
  5. Định Tường
  6. Hà Tiên

Lãnh thổ Cao Miên giai đoạn 1836-1840[sửa | sửa mã nguồn]

Trong giai đoạn 1836-1840, Cao Miên (Campuchia) không có vua chính thức, nhà Nguyễn bảo hộ Cao Miên, đã sáp nhập vùng lãnh thổ Cao Miên do nhà Nguyễn bảo hộ (các tỉnh phía Đông Nam Biển Hồ bao gồm cả OudongPhnom Penh) vào lãnh thổ Đại Nam gọi là Trấn Tây và chia và đặt tên thành 33 phủ và 2 man để quản lý:

  • Kim Trường (từng thuộc tỉnh Hà Tiên nhà Nguyễn)
  • Thâu Trung (Trung)
  • Ca Âu (Ca Khu)
  • Vọng Vân
  • Trung Hà
  • Trưng Lai (Trưng Lệ)
  • Sơn Phủ
  • Sơn Bốc (Sơn Bo (Sambour), nay thuộc Kratié)
  • Tầm Vu (Mạt Tầm Vu)
  • Khai Biên (từng thuộc tỉnh Hà Tiên, nay là tỉnh Kampot và thành phố Sihanoukville của Campuchia)
  • Kha Lâm (còn gọi là Ca Lâm, đổi từ Kha Rừng)
  • Ca Thê (nay thuộc Kratié)
  • Lạp Cẩm
  • Bài Lô
  • Việt Long
  • Tôn Quảng
  • Biên Hóa
  • Di Chấn Tài
  • Ý Dĩ (Phủ Phủ)
  • Chân Thành (Châu Chiêm, (Treang)) (sau thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn)
  • Mật Luật (Ngọc Luật) (sau thuộc tỉnh An Giang nhà Nguyễn)
  • Ô Môn (nay thuộc thành phố Cần Thơ)
  • 2 man là Cân Chế và Cân Dò
Cao Miên và Nam Kỳ Lục tỉnh năm 1860 (tên các địa danh phủ huyện của Cao Miên do nhà Nguyễn đặt được phiên âm qua tiếng Pháp).

Tháng 5 âm năm Minh Mạng 21, Canh Tý (1840), trừ 2 phủ với 5 huyện đã trích ra để nhập vào An Giang, các phủ huyện còn lại của Trấn Tây được Minh Mạng tổ chức lại thành 10 phủ là:

  • Trấn Tây (phủ), đổi từ phủ Nam Vang, gồm 2 huyện: Thái An (đất bờ phía Tây phủ Nam Vang hợp với đất La Kết), Lư An (đất bờ sông phía Đông phủ Nam Vang hợp với đất Tầm Vu).
  • Nghi Hòa, gồm 2 huyện: Thượng Phong (đổi tên từ huyện Hóa Di), Phong Nhương (đổi tên từ huyện Ca Bát).
  • Nam Ninh, gồm 3 huyện: Nam Thịnh (nguyên là huyện Ba Nam đổi tên, có đặt phủ lỵ), Phù Nam (là huyện mới gộp lại từ 2 huyện Tầm Đôn, Tuy Lạp), và Nam Thái.
  • Vũ Công, gồm 3 huyện: Kỳ Tô, Bình Tiêm, Trưng Thụy (Trưng Lệ). Các phủ Trấn Tây, Nghi Hòa, Nam Ninh, Vũ Công đều ở xung quanh gần với thành Trấn Tây (Nam Vang), trực tiếp do Trương Minh Giảng cùng các tham tán đại thần Trấn Tây quản lý.
  • Hải Tây, gồm 2 huyện: Hải Bình (hợp lại từ phủ lỵ Hải Tây và huyện Ca Âu), Thâu Trung (hợp lại từ 3 huyện Ý Dĩ, Vọng Vân, Thâu Trung).
  • Hải Đông, gồm 2 huyện: Hải Ninh (hợp lại từ phủ lỵ Hải Đông và huyện Ca Nhi), Tập Ninh (hợp lại từ 2 bảo Sa Tôn, và Chi Trinh).
  • Ninh Thái, gồm 3 huyện: Ngọc Bi (phủ lỵ), Giang Hữu (trước là đất Lô Việt (Lò Việt, (Lovek)) hợp với một phần (1 thôn) của huyện Trung Hà), Thái Thịnh (đổi tên từ Long Tôn). Các phủ Hải Tây, Ninh Thái nằm phía Tây Biển Hồ, và đều do Tuyên phủ sứ phủ Hải Tây quản lý.
  • Hà Bình, gồm 2 huyện Trung Hà (hợp lại từ huyện Chấn Tài và 5 thôn còn lại của huyện Trung Hà (cũ)), và Phúc Lai. Các phủ Hà Bình, Hải Đông đều nằm ở phía Đông Biển Hồ, và đều do Tuyên phủ sứ phủ Hải Đông quản lý.
  • Sơn Tĩnh, gồm 2 huyện: Quế Lâm (hợp lại từ phủ lỵ Sơn Tĩnh và huyện Quế Lâm), Sơn Đông (đổi từ huyện Sơn Phú (Sơn Phủ)).
  • Mỹ Lâm, gồm 2 huyện: Mỹ Tài (huyện lỵ), Hoa Lâm (Ca Lâm, nguyên là huyện Sơn Trung và Hoa Lâm hợp lại). Các phủ Hà Bình, Hải Đông đều nằm ở phía Đông Biển Hồ, và đều do Tuyên phủ sứ phủ Sơn Tĩnh quản lý.[9]

Bộ máy địa phương[sửa | sửa mã nguồn]

Đứng đầu tỉnh là Tổng đốc (mỗi người phụ trách 2-3 tỉnh và chuyên trách 1 tỉnh) và Tuần phủ (dưới Tổng đốc, phụ trách chỉ 1 tỉnh). Giúp việc có Bố chánh sứ ti lo về thuế khóa, hộ khẩu, hành chính; Án sát sứ ti lo về an ninh, luật pháp. Phụ trách về quân sự có chức lãnh binh. Tất cả các quan chức đứng đầu tỉnh đều do chính quyền trung ương trực tiếp bổ nhiệm, và thường là võ quan cao cấp (về sau nhà Nguyễn mới bổ dụng thêm các quan văn)[8]. Hệ thống chính quyền được phân biệt rõ rệt giữa trung ương và địa phương, và trong hệ thống này nhà vua, người đứng đầu đất nước, nắm nhiều quyền lực hơn hẳn so với các thời kỳ trước[10].

Dưới tỉnh là phủ, huyện, châu, tổng và xã. Quan chức của triều đình chỉ phân ra tới phủ huyện, từ tổng trở xuống thuộc về quyền tự trị của dân. Người dân tự lựa chọn lấy người của mình mà cử ra quản trị mọi việc tại địa phương. Tổng gồm có vài làng hay xã, có một cai tổng và một phó tổng do Hội đồng Kỳ dịch của các làng cử ra quản lý thuế khóa, đê điều và trị an trong tổng. Nhưng nhìn chung là cơ cấu hành chính của các tổng, xã được tổ chức khá chặt chẽ để triều đình có thể dễ dàng quản lý và phản ứng mau lẹ khi có sự biến xảy ra[8].

Ngạch quan lại chia làm 2 ngành văn. Kể từ thời vua Minh Mạng được xác định rõ rệt giai chế phẩm trật từ cửu phẩm tới nhất phẩm, mỗi phẩm chia ra chánh và tòng 2 bậc. Trừ khi chiến tranh loạn lạc còn bình thường quan võ phải dưới quan văn cùng phẩm với mình. Quan Tổng đốc (văn) vừa cai trị tỉnh vừa chỉ huy quân lính của tỉnh nhà[11].

Vùng Cao nguyên Nam Trung Bộ (Tây Nguyên) hiện nay, vào thời nhà Nguyễn độc lập (1802-1883), tuy được gọi là châu Thượng Nguyên, nhưng còn đang là các vùng tự trị (bao gồm cả một phần Nam Lào và Đông Bắc Campuchia lẫn Tây Nguyên này nay) thuộc các tiểu quốc thần phục và triều cống cho Đại Nam (là Thủy Xá, Hỏa Xá), chưa chính thức thuộc lãnh thổ Việt Nam.

Đối với vùng thượng du và với các khu vực sinh sống của các dân tộc thiểu số, chủ yếu là 6 ngoại trấn của Bắc Thành cũ, vua Minh Mạng quyết định nhất thể hóa về mặt hành chính cùng với các vùng miền xuôi. Năm 1829 ông bãi bỏ chế độ thế tập của các Thổ ti (các tù trưởng của dân tộc thiểu số) mà cho quan lại lựa chọn những thổ hào ở địa phương "...thanh liêm, tài năng cần cán được dân tin phục" làm Thổ tri các châu huyện. Tiếp theo, các châu huyện miền núi cũng được phân chia lại để phù hợp với diện tích và dân số mỗi vùng. Sau đó, vua Minh Mạng còn đặt thêm một chức lưu quan do người Kinh nắm giữ để khống chế các vùng này tốt hơn và tiến hành thu thuế các loại như ở miền xuôi. Chế độ này đã từng làm thí điểm ở các vùng cao thuộc Nghệ An, nay áp dụng ở Tuyên Quang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng. Tuy nhiên, do phản ứng của người dân địa phương, vua Tự Đức sau đó đã bãi bỏ chế độ lưu quan[5].

Tính đến cuối thế kỷ 19, Việt Nam có 98 phủ bao gồm 342 huyệnchâu.[12]

Vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa[sửa | sửa mã nguồn]

Quần đảo Hoàng Sa trên bản đồ của Đức năm 1876 vẽ vùng Viễn Ấn Hinter-Indien với lời ghi rõ quần đảo thuộc xứ "Annam"

Đối với hai quần đảo Hoàng SaTrường Sa, vua Gia Long từ năm 1816 đã chính thức ra lệnh tiếp thu Hoàng Sa, cắm cờ trên đảo và đo thuỷ trình. Sang triều Minh Mạng, nhà Nguyễn cho xây đền, đặt bia đá, đóng cọc, và trồng cây. Đội Hoàng Sa và Đội Bắc Hải được trao nhiều nhiệm vụ hơn: khai thác, tuần tiễu, thu thuế dân trên đảo và nhiệm vụ biên phòng bảo vệ hai quần đảo. Hai đội này tiếp tục hoạt động cho đến khi người Pháp vào Đông Dương.

Nhận định[sửa | sửa mã nguồn]

Những thành quả của vương triều Nguyễn trong việc xây dựng nhà nước quân chủ phong kiến tập quyền thống nhất trên toàn lãnh thổ cũng được ghi nhận từ việc quản lý đất nước. Đặc biệt là những thành tựu trong cải cách hành chính dưới triều Minh Mạng còn có nhiều giá trị. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đắc Xuân cho rằng: "Nhà Nguyễn có nhiều chính sách hay. Chính sách Đình Nghị: Đã đi họp là phải phát biểu. Ý kiến trong Đình Nghị phải được ghi chép. Nếu không phát biểu trong kỳ họp trước, kỳ sau sẽ không được đi họp nữa. Hay chủ trương Hầu trị: Người của địa phương không được đứng đầu trong địa phương. Phải đi nơi khác làm quan, khi đến địa phương khác, không được lấy vợ, mua đất ở đó. Giám khảo chấm thi không được tham gia khi có người nhà đi thi, hoặc phải trình báo…Đây là những chính sách mà ngày nay chúng ta cần học tập."[13]

Nhưng nhiều nhà sử học về sau cho rằng bộ máy quan lại triều Nguyễn không thực sự hủ bại, thối nát, rằng từ thời vua Gia Long (1802-1820) đến Minh Mạng (1820-1840), nhà Nguyễn đã "thực hiện công cuộc cải cách hành chính theo xu hướng đơn giản, hợp lý, hiệu quả, chú trọng xây dựng đội ngũ quan lại có năng lực, đáp ứng yêu cầu của đất nước". Sự thay đổi về quan điểm này được cho là do hiện nay các nhà sử học đã có được "nguồn sử liệu toàn diện, phong phú và phương pháp tiếp cận khách quan, khoa học, cộng với độ lùi thời gian cần thiết"[14].

Nước Đại Nam của nhà Nguyễn vào thời điểm kết thúc độc lập năm 1883-1884, lãnh thổ chính bị chia thành 3 xứ Nam Kỳ thuộc địa (Cochinchina), Trung Kỳ (Annam), Bắc Kỳ (Tonkin) thuộc Pháp. Lãnh thổ cực đại của nhà Nguyễn thời độc lập tương đương với 3 xứ này và những vùng hay vương quốc mà nhà Nguyễn từng sáp nhập ở xung quanh: Trấn Ninh, Tây Nguyên (Pays de Mois), và Trấn Tây (Cambodge 1834-1840).

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn chủ biên (2008), Đại cương lịch sử Việt Nam, NXB Giáo dục
  • Nguyễn Thế Anh (2008), Kinh tế & xã hội Việt Nam dưới các triều vua nhà Nguyễn, Nhà xuất bản Văn Học.
  • Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, NXB Văn hóa thông tin
  • Trần Thanh Tâm (1996), Tìm hiểu quan chức nhà Nguyễn, NXB Thuận Hóa
  • Trần Trọng Kim (1971), Việt Nam sử lược, 2, Sài Gòn: Trung tâm Học liệu Xuất bản thuộc Bộ Giáo dục
  • Vu Tam Ich. "A Historical Survey of Educational Developments in Vietnam". Bulletin of the Bureau of School Service Vol XXXII, No 2. Lexington, KY: University of Kentucky, College of Education, 1959.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Thanh Tâm, sách đã dẫn, tr 22
  2. ^ a ă Trần Thanh Tâm, sách đã dẫn, tr 24
  3. ^ Trần Thanh Tâm, sách đã dẫn, tr 25
  4. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 210
  5. ^ a ă â Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 436
  6. ^ Đại Nam nhất thống chí, quyển 26, trang 256.
  7. ^ Đào Duy Anh, sách đã dẫn, tr 211
  8. ^ a ă â Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 437
  9. ^ Đại Nam thực lục, chính biên, đệ nhị kỷ, quyển CCXIII, tập 5, trang 718, 719.
  10. ^ Trương Hữu Quýnh, Đinh Xuân Lâm, Lê Mậu Hãn, sách đã dẫn, tr 439
  11. ^ Nguyễn Thế Anh (2008), sách đã dẫn, tr 47
  12. ^ Vu Tam Ich, sách đã dẫn, tr 18
  13. ^ “Trả lại lịch sử công lao nhà Nguyễn”. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010. 
  14. ^ “Nhìn nhận lại vương triều Nguyễn: Cần khách quan với lịch sử”. 20/10/2008. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2010.  Đã bỏ qua tham số không rõ |piblisher= (trợ giúp)