Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã
Một phần của Những cuộc xâm lược của người Hồi Giáo
Greekfire-madridskylitzes1.jpg
Ngọn lửa Hy Lạp, được sử dụng Hải quân Đông La Mã trong cuộc chiến chống lại Ả Rập.
Byzantine-Arab naval struggle.png
Bản đồ các cuộc xung đột giữa Ả Rập và Đế quốc Đông La Mã
.
Thời gian 629–thập niên 1050
Địa điểm Cận Đông, Syria, Ai Cập, Bắc Phi, Anatolia, Crete, Sicilia, Nam Italia
Kết quả Quân Ả Rập dành thế thượng phong ban đầu, sau đó là một cuộc tái chinh phục của Đông La Mã trong thế kỷ thứ 10
Thay đổi lãnh thổ Cận Đông, Lưỡng HàBắc Phi bị sát nhập vào Ả Rập. Bắc Cận Đông vị quân đội Đông La Mã tái chiếm tại sau này.
Tham chiến
Simple Labarum2.svg Đế quốc Đông La Mã[1]
Ghassanid[2]
Mardaite
Lãnh địa Armenia
Đế quốc Bulgaria
Vương quốc Ý
Các Thành bang Ý
Black flag.svg Nhà Rashidun
Umayyad Flag.svg Nhà Umayyad
Black flag.svg Nhà Abbas
Aghlabids
Tiểu vương quốc Sicilia
Tiểu vương quốc Bari
Tiểu vương quốc Crete
Hamdanid xứ Aleppo
Fatimid flag.svg Nhà Fatima
Mirdasid xứ Aleppo
Chỉ huy
Heraclius
Theodore Trithyrius 
Gregorius Quý tộc 
Constans II
Constantinus IV
Justinian II
Leontios
Heraclius
Constantinus V
Leo V người Armenia
Michael Lachanodrakon
Tatzates
Nikephoros I
Theophilos
Manuel người Armenia
Niketas Ooryphas
Himerios
John Kourkouas
Bardas Phokas Già
Nikephoros II Phokas
Leo Phokas Trẻ
John I Tzimiskes
Michael Bourtzes
Basileios II
Nikephoros Ouranos
George Maniakes
Black flag.svg Ja'far ibn Abī Tālib 
Black flag.svg Khalid ibn al-Walid
Black flag.svg Khalip Abu Bakr
Black flag.svg Khalip Umar
Black flag.svg Abu Ubaidah ibn al-Jarrah
Black flag.svg 'Amr ibn al-'As
Black flag.svg Yazid ibn Abu Sufyan
Black flag.svg Abdullah ibn Saad
Umayyad Flag.svg Muawiyah I
Umayyad Flag.svg Yazid I
Umayyad Flag.svg Muhammad ibn Marwan
Umayyad Flag.svg Maslamah ibn Abd al-Malik
Umayyad Flag.svg Abdallah al-Battal
Umayyad Flag.svg Mu'awiyah ibn Hisham
Black flag.svg Harun al-Rashid
Black flag.svg Abd al-Malik ibn Salih
Black flag.svg Al-Ma'mun
Black flag.svg Al-Mu'tasim
Asad ibn al-Furat 
Abbas ibn al-Fadl
Khafaga ibn Sufyan
Ibrahim II của Ifriqiya
Leo của Tripoli 
Umar al-Aqta 
Sayf al-Dawla
Fatimid flag.svg al-Aziz Billah
Fatimid flag.svg Manjutakin
.

Chiến tranh Ả Rập-Đông La Mã là một loạt các cuộc chiến giữa triều đại Ả Rập với Đế quốc Đông La Mã hay còn gọi là Đế quốc Byzantine từ thế kỷ thứ 7 và thứ 12. Cuộc chiến bắt đầu trong thời gian Cuộc chinh phục đầu tiên của người Hồi giáo dưới sự bành trướng của nhà Rashidun và Khalip Umayyad và tiếp tục dưới hình thức một cuộc tranh chấp biên giới lâu dài cho đến cuộc Thập tự chinh đầu tiên. Kết quả là, Đế quốc Đông La Mã đã bị mất mát phần lớn lãnh thổ của nó.

Ngay khi chiến tranh Đông La Mã-Ba Tư vừa kết thúc thì người Ả Rập-Hồi giáo đã kéo quân vào tấn công các thành phố của Đế quốc Đông La Mã.

Những xung đột ban đầu kéo dài từ năm 634-718, kết thúc với Cuộc vây hãm Constantinopolis lần thứ hai của người Ả Rập và kết quả là việc mở rộng nhanh chóng của đế quốc Ả Rập vào vùng Anatolia. Tuy nhiên các cuộc xung đột lại tiếp tục từ giữa thế kỷ thứ 9 đến năm 1169. Các cuộc xâm lược vào các lãnh thổ miền nam Ý do lực lượng nhà Abbas tiến hành trong các thế kỷ 9 và 10 đã không thành công như ở Sicilia. Tuy nhiên, dưới triều đại Makedonia, người Đông La Mã chiếm lại lãnh thổ trong vùng Cận động bằng chính binh lực của họ, quân đội Đông La Mã thậm chí còn đe dọa chiếm lại phía nam Jerusalem. Tiểu vương quốc Aleppo và các hàng xóm của nó đã trở thành chư hầu của Đông La Mã ở phía đông, nơi mà mối đe dọa lớn nhất là vương quốc Fatimid ở Ai Cập, cho đến khi sự nổi lên của người Seljuk đã đảo ngược tất cả các trật tự và đẩy triều đình Abbas vào sâu trong vùng lãnh thổ Anatolia. Sự kiện này dẫn đến việc Hoàng đế Đông La Mã Alexios I Komnenos yêu cầu một cách tuyệt vọng viện trợ quân sự từ Giáo hoàng Urban II tại Hội đồng Piacenza, đây được cho là một trong những sự kiện để bắt đầu cuộc Thập tự chinh đầu tiên.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Việc kéo dài và leo thang cuộc chiến Đông La Mã-Sassanid trong các thế kỷ thứ 6 và 7 làm cho cả hai đế chế đều chở nên kiệt sức và dễ bị tổn thương khi phải đối mặt với sự xuất hiện đột ngột và sự mở rộng của người Ả Rập. Mặc dù khi cuộc chiến tranh với người Ba Tư kết thúc với chiến thắng đã thuộc về Đông La Mã: Hoàng đế Heraclius đã lấy lại tất cả các lãnh thổ bị mất và phục hồi Thánh giá Thiêng liêng đến Jerusalem trong năm 629.[3] Tuy nhiên, đế chế Đông La Mã đã không có bất kỳ cơ hội nào để phục hồi dù chỉ là một vài năm mà ngay lập tức họ đã bị tấn công bởi người Ả Rập, mà theo nhà sử học Howard-Johnston, "chỉ có thể được ví như một cơn sóng thần được tạo nên bởi con người".[4] Theo nhà sử học George Liska thì "cuộc xung đột kéo dài một cách không cần thiết giữa Đông La Mã-Ba Tư đã mở đường cho đạo Hồi".[5]

Trong những năm cuối của thập nhiên 620, nhà tiên tri Muhammad đã cố gắng chinh phục và thống nhất nhiều vùng Ả Rập hơn nữa vào sự cai quản của Hồi giáo và dưới sự lãnh đạo của ông thì cuộc giao tranh đầu tiên giữa Hồi giáo-Đông La Mã đã nổ ra. Chỉ một vài tháng sau khi Heraclius và Tướng thống lĩnh quân đội Ba Tư, Shahrbaraz nhất trí về các điều khoản cho việc rút quân đội Ba Tư từ tỉnh chiếm đoạt được ở phía đông của Đông La Mã vào năm 629, thì quân đội Ả Rập và Đông La Mã đã phải đối mặt nhau tại Mu’tah.[6] Muhammad qua đời năm 632 và được kế tục bởi Abu Bakr, lần đầu tiên Quốc vương Hồi giáo kiểm soát hoàn toàn toàn bộ bán đảo Ả Rập sau thành công của họ ở cuộc chiến Ridda, kết quả của sự hợp nhất này là sự ra đời của một nhà nước Hồi giáo hùng mạnh trên toàn bán đảo tiểu Á.[7]

Cuộc xâm lược của người Hồi giáo[sửa | sửa mã nguồn]

Khu vực Sham là nơi bắt đầu của cuộc Xâm lược của người Ả Rập.

   Lãnh thổ mở rộng bởi Muhammad, 622–632/A.H. 1-11

   Lãnh thổ mở rộng bởi Nhà Rashidun, 632–661/A.H. 11-40

   Lãnh thổ mở rộng bởi Nhà Umayyad, 661–750/A.H. 40-129

Theo lịch sử của người Hồi giáo, nhà tiên tri Muhammad, sau khi nhận được thông tin tình báo rằng lực lượng Đông La Mã đã tập trung ở phía Bắc Ả Rập với ý định là sẽ xâm lược Ả Rập, ông này đã dẫn đầu một đội quân Hồi giáo tiến về phía bắc Tabouk ngày nay là Tây Bắc của Ả Rập Saudi, Với ý định tấn công trước vào quân đội Byzantine, tuy nhiên tin tức này đã được chứng minh là không đúng sự thật. Mặc dù đây không phải là một trận chiến theo nghĩa thông thường, tuy nhiên sự kiện này, nếu nó thực sự xảy ra, sẽ là vụ xung đột đầu tiên giữa người Ả Rập và Đông La Mã.[8]

Mặc dầu vậy, không có tài liệu nào của Đông La Mã ghi chép về đoàn quân viễn chinh tới Tabuk và rất nhiều các chi tiết chỉ đến từ nhiều nguồn tài liệu sau này của người Hồi giáo. Người ta tranh luận rằng nguồn tài liệu truyền thống của Đông La Mã chỉ đề cập đến trận đánh đầu tiên đó là trận Mu’tah năm 629, nhưng giả thuyết này không chắc đã hoàn toàn đúng.[9] Các cuộc đụng độ đầu tiên có thể đã bắt đầu như là các xung đột với các quốc gia Ả Rập chư hầu của đế chế Đông La Mã và Sassanid: các vưong quốc Ghassanid và Lakhmid của Al-Hirah. Trong mọi trường hợp thì chắc chắn sau năm 634 người Hồi giáo Ả Rập đã theo đuổi một cuộc xâm lược toàn diện vào cả hai đế chế, dẫn đến các cuộc chinh phục của đạo Hồi vào các quốc gia Cận Đông, Ai Cập và Ba Tư cho. Các tướng lãnh thành công nhất của người Hồi giáo Ả Rập là Khalid ibn al-Walid và ‘Amr ibn al-’As.

Người Ả Rập xâm lược Syria[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Trung Đông, quân đội xâm lược của Rashidun bị chặn đánh bởi quân đội Đông La Mã bao gồm quân triều đình cũng như quân địa phương.[1] Theo các sử gia Hồi giáo thì người Monophysit và Người Do Thái ở Syria hoan nghênh những kẻ xâm lược Ả Rập vì họ bất mãn với sự cai trị của triều đình Đông La Mã. Các bộ tộc Ả Rập cũng đã có mối quan hệ có ý nghĩa về kinh tế, văn hóa và họ hàng với công dân của Syria, những người chủ yếu là Ả Rập ở vung Trăng lưỡi liềm màu mỡ.

Rủi thay lúc này Hoàng đế La Mã Heraclius lại bị ốm và không thể đích thân dẫn quân đội của mình để chống lại những cuộc chinh phục của người Ả Rập vào Syria và Palestina trong 634. Trong một trận chiến ở gần Ajnadayn vào mùa hè năm 634, quân đội của quốc vương Hồi giáo Rashidun đã có được một chiến thắng quyết định.[10] Sau chiến thắng của họ tại Fahl, lực lượng Hồi giáo chinh phục Damascus trong năm 634 dưới sự chỉ huy của Khalid ibn Walid.[11] Phản ứng của Đông La Mã thu thập một số lượng tối đa quân đội thường trực dưới sự chỉ huy của các sỹ quan chủ chốt, bao gồm cả Theodore TrithyriusVahan, viên tướng người Armenia, để đẩy người Hồi giáo ra khỏi vùng lãnh thổ mà họ vừa chiếm được.[11]

Tuy nhiên tại Trận Yarmouk năm 636, người Hồi giáo, đã nghiên cứu địa hình chiến trường một cách kỹ càng và thu hút người Đông La Mã vào một trận chiến ở địa hình dốc,[12] loại địa hình mà người Đông La Mã thường tránh né và vào một loạt các cuộc tấn công tốn kém, trước khi chuyển qua các thung lũng sâu và vách đá để vào một cái bẫy thảm khốc chết người.[13] Lời cảm thán của Heraclius trước khi khởi hành từ Antioch đi Constantinopolis, là thể hiện sự thất vọng của ông: "Hòa bình đến với ngươi, Ô Syria, và đất nước tuyệt vời này lại phải để lại cho kẻ thù!"b[›] Các tác động của việc mất mát Syria tới Byzantine được minh họa bởi Joannes Zonaras: "… kể từ đó [sau sự sụp đổ của Syria] người Ishmaelit đã không ngừng đua nhau xâm lược và cướp bóc toàn bộ lãnh thổ của người La Mã".[14]

Trong tháng 4 năm 637, người Ả Rập sau một cuộc bao vây kéo dài đã chiếm được Jerusalem, trước sự đầu hàng của Thượng phụ Sophronius. Vào mùa hè năm 637, người Hồi giáo chinh phục Gaza và trong thời gian này chính quyền Đông La Mã ở Ai Cập và Lưỡng Hà phải mua một thỏa thuận ngừng chiến tốn kém, kéo dài ba năm đối với Ai Cập và một năm đối với Lưỡng Hà. Thành phố Antioch đã thất thủ trước các đội quân Hồi giáo vào cuối năm 637 và sau đó những người Hồi giáo chiếm đóng toàn bộ miền bắc Syria, ngoại trừ vùng Lưỡng Hà, nơi mà họ chấp nhận một thỏa thuận ngừng chiến một năm.[9]

Khi thỏa thuận ngừng chiến này hết hạn vào năm 638-639, người Ả Rập tràn vùng Lưỡng Hà và Armenia của Đông La Mã và chấm dứt các cuộc chinh phục vào Palestina bằng việc công phá Caesarea Maritima và thực hiện cú chinh phục cuối cùng của họ vào thành phố Ascalon. Tháng 12 năm 639, người Hồi giáo rời khỏi Palestina để tiến hành xâm lược Ai Cập vào đầu năm 640.[9]

Cuộc xâm lược Bắc Phi của người Ả Rập: 639-698[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Cuộc xâm lược Bắc Phi của Umayyad.

Cuộc chinh phục Ai Cập và Cyrenaica của người Ả Rập[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Cuộc chinh phục Ai Cập của người Hồi giáo.

Vào thời gian Heraclius qua đời, phần lớn lãnh thổ Ai Cập đã bị mất và năm 637-638 toàn bộ Syria đã nằm trong tay của quân đội Hồi giáo. Một đội quân 3,500–4,000 người dưới sự chỉ huy của tướng Amr ibn al-A’as đầu tiên tràn vào Ai Cập từ Palestina vào cuối năm 639 hoặc đầu năm 640. Ông đã dần dần có thêm quân tiếp viện, đặc biệt là 12.000 binh sĩ do Al-Zubayr chỉ huy. Đầu tiên ‘Amr bao vây và chinh phục Babylon, và sau đó tấn công Alexandria. Người Byzantine bị chia rẽ và sốc bởi sự mất mát đột ngột của rất nhiều lãnh thổ, đã chấp nhận từ bỏ thành phố vào tháng 9 năm 642.[15] Sự sụp đổ của Alexandria đã chấm dứt sự kiểm soát của Byzantine ở Ai Cập và cho phép người Hồi giáo tiếp tục mở rộng các cuộc tấn công quân sự của họ vào Bắc Phi, giữa năm 643–644 ‘Amr hoàn thành cuộc chinh phục Cyrenaica.[16] Uthman kế thừa Khalip Umar sau khi ông này chết.[17]

Trong suốt triều đại của Uthma trong một thời gian ngắn hải quân Đông La Mã giành lại được Alexandria trong năm 645, nhưng lại bị mất nó một lần nữa trong năm 646 ngay sau Trận Nikiou.[18] Lực lượng Hồi giáo đã đột kích vào Sicily trong năm 652, trong khi các đảo CyprusCrete năm 653. Theo các sử gia Ả Rập, người Ai Cập địa phương theo đạo Cơ Đốc đã hoan nghênh người Ả Rập cũng như người ở Monophysit và ở Jerusalem.[19] Việc mất mát của những tỉnh này đã tước đoạt các nguồn cung cấp lúa mì cho Đông La Mã, từ đó gây ra tình trạng thiếu lương thực trên toàn Đế chế và làm suy yếu quân đội của nó trong những thập kỷ tiếp theo.[20]

Cuộ xâm lược Trấn Bắc Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 647, một đội quân Ả Rập do Abdallah ibn al-Sa’ad chỉ huy xâm lược phần còn lại của châu Phi thuộc Đông La Mã. Tripolitania bị chinh phục, tiếp theo là Sufetula, 150 dặm (240 km) về phía nam của Carthage, và viên thống đốc cùng với Gregory – Hoàng đế tự phong ở châu Phi đã bị giết. Đội quân mang đầy chiến lợi phẩm của Abdallah quay lại Ai Cập năm 648 sau khi Gennadius, người kế vị của Gregorius, hứa hẹn sẽ cống nộp họ hàng năm khoảng 300.000 nomismata.[21]

Sau một cuộc nội chiến trong đế quốc Ả Rập, triều đại Umayyad lên nắm quyền dưới sự cai trị của Muawiyah I. Dưới triều đại Umayyad cuộc chinh phục các lãnh thổ còn lại còn lại của Đông La Mã ở Bắc Phi đã hoàn tất và người Ả Rập đã có thể di chuyển trên phần lớn vùng Maghreb, xâm nhập vào Tây Ban Nha của người Visigoth qua Eo biển Gibraltar, dưới sự chỉ huy của Tariq ibn-Ziyad, tướng người Berber.[19] Nhưng sự kiện này chỉ xảy ra sau khi họ đã phát triển được một lực lượng hải quân của riêng mìnhe[›] và họ đã chinh phục và phá hủy thành lũy của Đông La Mã ở Carthage vào giữa các năm 695 698.[22] Những mất mát của châu Phi có nghĩa là ngay lập tức quyền kiểm soát của Byzantine ở phía Tây Địa Trung Hải bị thách thức bởi một hạm đội mới và mở rộng của người Ả Rập hoạt động từ Tunisia.[23]

Khalip Muawiyah bắt đầu củng cố các lãnh thổ Ả Rập từ Biển Aral đến biên giới phía tây của Ai Cập. Ông đặt một thống đốc tại al-Fustat – Ai Cập, và phát động các cuộc tấn công vào Anatolia trong năm 663. Sau đó từ năm 665-689 tiếp tục một chiến dịch mới ở Bắc Phi để bảo vệ Ai Cập "trước các cuộc tấn công từ bên cánh của Byzantine, xuất phát từ Cyrene" Một đội quân Ả Rập gồm 40.000 chiến binh đã chiếm Barca và đánh bại 30.000 lính Đông La Mã.[24]

Một đội tiên phong gồm 10.000 lính Ả Rập dưới sự chỉ huy của Uqba ibn Nafi tiến từ Damas. Năm 670, Kairouan nay là Tunisia được thành lập như là một căn cứ để tiến hành các cuộc xâm lược xa hơn nữa; Kairouan trở thành thủ phủ của tỉnh Hồi giáo Ifriqiya và là một trong những trung tâm chính của văn hóa Hồi giáo-Ả Rập thời Trung cổ.[25] Sau đó ibn Nafi "tiến vào trung tâm của đất nước, đi ngang qua vùng hoang dã", mà sau đó người kế nhiệm ông dựng lên những thủ đô FesMorocco tráng lệ và xâm nhập vào bên bờ của Đại Tây Dươngsa mạc Vĩ đại.[26] Trong cuộc chinh phục của ông về phía Maghreb, ông đã chiếm các thành phố ven biển BugiaTingi,[27] tràn ngập những nơi từng là tỉnh Mauretania Tingitana của La Mã tại đây cuối cùng ông đã dừng lại. Như sử gia Luis Garcia de Valdeavellano đã giải thích:

Trong cuộc đấu tranh của họ chống lại người Đông La Mã và người Berber, các thủ lĩnh người Ả Rập đã mở rộng rất nhiều lãnh địa thuộc châu Phi của họ và vào đầu năm 682 Uqba đã đến tới bờ Đại Tây Dương, nhưng ông đã không thể chiếm được Tangier, vì vậy ông đã buộc phải quay trở lại về phía dãy núi Atlas bởi một người đàn ông sau này trở nên nổi tiếng trong lịch sử và truyền thuyết như Bá tước Julianus.[28]

Người Ả rập tấn công Anatolia và cuộc vây hãm Constantinopolis[sửa | sửa mã nguồn]

Khi đợt thủy triều đầu tiên của các cuộc chinh phục của người Hồi giáo ở vùng Cận Đông rút xuống và một vùng biên giới khá ổn định giữa hai Đế chế được thiết lập, một khu vực rộng, không sở hữu bởi Đông La Mã hay người Ả Rập và hầu như bỏ hoang (được biết đến trong tiếng Ả Rập là al-Ḍawāḥī và tiếng Hy Lạp như là τὰ ἄκρα, ta akra "vùng đất bên ngoài") xuất hiện ở Cilicia, tương tự như vậy ở phía nam là các dãy núi Taurus và Anti-Taurus, để lại Syria cho Hồi giáo và vùng Cao nguyên Anatolia trong tay người Đông La Mã. Cả hoàng đế Heraclius và Khalip ‘Umar (634-644) theo đuổi một chiến lược hủy diệt ở khu vực này, cố gắng để biến nó thành một rào cản có hiệu quả giữa hai Đế quốc.[29]

Tuy nhiên, Quốc vương Hồi giáo vẫn toan tính cho một cuộc chinh phục hoàn toàn vào Byzantine và đặc biệt thành phố Constantinopolis là mục tiêu cuối cùng của họ. Cả thống đốc của Syria và sau đó là Khalip Muawiyah I (661-680) là động lực của các nỗ lực Hồi giáo chống lại Hy Lạp, đặc biệt là sáng tạo của ông về một hạm đội đã thách thức hải quân Đông La Mã và đột kích các đảo và bờ biển Đông La Mã. Thất bại gây sốc của hạm đội hải quân Đế chế trước hạm đội non trẻ của người Hồi giáo trận chiến Cột Buồm trong năm 655, trận chiến này có tầm quan trọng: nó mở ra Địa Trung Hải, cho đến lúc đó vẫn là một "vùng hồ sân sau của người La Mã", thành vùng mở rộng của người Ả Rập và bắt đầu một chuỗi dài xung đột hải quân nhiều thế kỷ để kiểm soát các tuyến đường thủy ở Địa Trung Hải.[30][31]

Muawiyah cũng bắt đầu các cuộc không kích quy mô lớn đầu tiên vào vùng Anatolia từ năm 641. Những cuộc viễn chinh nhằm cướp bóc và suy yếu đồng thời giữ chân người Đông La Mã ở trong vùng vịnh, cũng như trả đũa các cuộc tấn công tương tự của người Đông La Mã, cuối cùng trở thành chiến thuật cố định trong chiến tranh Đông La Mã-Ả Rập trong suốt ba thế kỷ tiếp theo. Về phía người Hồi giáo, chúng cũng trở thành một phần của chiến tranh Hồi giáo lặp đi lặp lại và nhanh chóng trở được tiến hành một cách thường xuyên: các cuộc viễn chinh 1-2 mùa hè (ṣawā’if, ṣā’ifa) đôi khi đi kèm với một cuộc tấn công hải quân và/hoặc sau chuyến viễn chinh mùa đông (shawātī).[32] Các cuộc viễn chinh mùa hè thường bao gồm hai vụ tấn công riêng biệt, các “cuộc viễn chinh ở cánh trái” (al-ṣā’ifa al-yusrā/al-ṣughrā) được tiến hành từ phía Bắc Syria (từ đầu thế kỷ thứ 8 vào Cilicia) và bao gồm chủ yếu là quân đội ở Syria và ” cuộc viễn chinh ở cánh phải” thường lớn hơn (al-ṣā’ifa al-yumnā/al-kubrā) được phát động từ Malatya và bao gồm quân đội ở Lưỡng Hà. Các cuộc tấn công cũng chủ yếu giới hạn trong các vùng biên giới và vùng cao nguyên miền Trung Anatolia, và hiếm khi đạt đến ngoại vi vùng duyên hải, nơi mà Đông La Mã tăng cường rất nhiều binh lực.

Tiền in hình Constans II.

Sự bùng phát Nội chiến của người Hồi giáo trong năm 656 đã tạo ra một thời gian tạm nghỉ quý giá cho Đông La Mã, mà Hoàng đế Constans II (641-668) sử dụng để tăng cường phòng thủ của mình, mở rộng và củng cố kiểm soát của ông đối với Armenia và quan trọng nhất, bắt đầu một cuộc cải cách có hiệu lực lâu dài vào quân đội: việc thành lập thema vùng lãnh thổ lớn ở Anatolia và các lãnh thổ tiếp giáp còn lại thuộc về đế quốc bị chia cắt thành các thema. Quân đội được định cư trong các thema hình thành xương sống của hệ thống phòng thủ của Đông La Mã trong nhiều thế kỷ tới và binh lính được giao đất để trả công cho sư phục vụ của họ.[33]

Các cuộc tấn công chống lại Đông La Mã ở châu Phi, Sicilia và Cận Đông[sửa | sửa mã nguồn]

Sau chiến thắng của ông trong cuộc nội chiến, Muawiyah tung ra một loạt các cuộc tấn công vào các vùng lãnh thổ mà Đông La Mã nắm giữ ở châu Phi, Sicily và phương Đông. Vào năm 670, hạm đội Hồi giáo đã thâm nhập vào Biển Marmara và trú đông tại Cyzicus. Bốn năm sau, một hạm đội Hồi giáo lớn xuất hiện trở lại Marmara và tái lập một căn cứ tại Cyzicus, từ đó họ đột kích các bờ biển của Đông La Mã. Cuối cùng, năm 676, Muawiyah gửi một đội quân để tấn công Constantinopolis từ đất liền, đây là cuộc vây hãm đầu tiên của người Ả Rập vào thành phố. Tuy nhiên Constantinus IV (trị vì 661-685) đã sử dụng một loại vũ khí tàn phá mới được biết đến như là "Lửa Hy Lạp", phát minh bởi một người Kitô tị nạn từ Syria tên là Kallinikos xứ Heliopolis, để đánh bại một cách quyết định các lực lượng hải quân của Umayyad trong Biển Marmara, Kết quả là đã phá bỏ được cuộc bao vây trong năm 678. Hạm đội của người Hồi giáo lúc quay trở về bị thiệt hại hơn nữa do một cơn bão, trong khi bộ binh bị mất nhiều người bởi các đội quân của các themạta tấn công họ trên con đường họ rút lui.[34]

Đê tiêu diệt hạm đội của người Ả Rập, người Đông La Mã có một vũ khí cực kỳ khủng khiếp, đó là "lửa Hy Lạp", loại lửa này có đặc điểm là cháy được trên mặt nước.[35][36] Cơ chế hoạt động của loại vũ khí "lửa Hy Lạp", các loại hóa chất nguyên liệu, đến ngày nay người ta cong chưa thể biết đích xác là những hóa chất gì, được trộn trong một bình và được đun nóng bằng lửa. Chiến đấu các hóa chất này được phun sang tầu địch bằng một chiếc bơm được làm bằng da và gỗ, luồng hóa chất này chạy qua một chiếc ống đồng và phóng ra ngoài có một người đứng ngoài châm đóm vào luồng hóa chất làm nó bốc cháy trước khi bắn vào tầu địch.[37][38]

Mặc dù triều đại của Justinian II, hoàng đế cuối cùng của nhà Heraclius, khá hỗn loạn, nhưng tiền đúc của ông vẫn mang truyền thống "PAX", thái bình.

Những hậu quả tiếp sau thất bại tại Constantinopolis là sự bất hạnh lớn trên toàn đế chế Hồi giáo vĩ đại. Như Gibbon viết, "vị vua Alexandros của người Hồi giáo, người khao khát thế giới mới, đã không thể bảo vệ được kết quả cuả các cuộc chinh phục gần đây của mình. Vì sự đào ngũ hàng loạt của người Hy Lạp và châu Phi, ông ta chỉ thu hồi được vùng đất bên bờ Đại Tây Dương." quân đội của ông được chỉ định để đàn áp những cuộc nổi loạn, và trong một trận chiến như vậy ông đã bị bao vây bởi các phần tử nổi loạn và bị giết. Sau đó, thống đốc thứ ba của châu Phi, Zuheir, bị lật đổ bởi một đội quân hùng mạnh, được gửi từ Constantinopolis bởi Constantinus IV để chiếm lại Carthage.[27] Trong khi đó, một cuộc nội chiến thứ hai của người Ả Rập cũng đã đang diễn ra ở Arabia và Syria kết quả là một loạt bốn khalip nữa bị giết sau cái chết của Muawiyah năm 680 và Abd al-Malik lên ngôi vào năm 685 và tiếp tục cho đến năm 692 với cái chết của nhà lãnh đạo phiến quân.[39]

Cuộc chiến Saracen của Justinian II (trị vì 685-695 và 705-711), hoàng đế cuối cùng của nhà Heraclius "phản ánh sự hỗn loạn chung của thời đại".[40] Sau một chiến dịch thành công ông đã thực hiện một thỏa thuận ngừng chiến với người Ả Rập, đồng ý về sở hữu chung các xứ Armenia, Iberia và Cyprus. Tuy nhiên, bằng cách loại bỏ đi 12.000 người Mardait theo Cơ đốc giáo từ vùng đất của họ ở Lebanon, ông đã loại bỏ một trở ngại lớn đối với người Ả Rập tại Syria và trong năm 692, sau thảm họa Trận Sebastopolis, người Hồi giáo xâm lược và chiếm toàn bộ Armenia.[41] Bị lật đổ vào năm 695, cùng với việc thất thủ Carthage năm 698, Justinian trở lại cầm quyền năm 705 711.[40] Lần trị vì thứ 2 của ông được đánh dấu bằng chiến thắng của người Ả Rập ở Tiểu Á và những bất ổn.[41] Theo đồn đại thì ông ta ra lệnh cho vệ binh của mình hành hình đơn vị duy nhất không bỏ rơi ông ta sau một trận chiến, để ngăn chặn họ đào ngũ trong trận kế tiếp.[40]

Lần phế ngôi Justinian đầu tiên và thứ hai theo sau bởi những rối loạn nội bộ, với các cuộc nổi dậy liên tiếp và hoàng đế ít hiểu biết về luật pháp và không có sự hỗ trợ. Trong điều kiện này, Umayyads hợp nhất kiểm soát của họ vào vùng Armenia và Cilicia, và bắt đầu chuẩn bị một cuộc tấn công mới vào Constantinopolis. Ở Đông La Mã, tướng Leo của Isaurian (trị vì 717-741) chỉ mới chiếm được ngôi vị vào năm tháng 3 năm 717, khi quân đội lớn của người Hồi giáo dươi sự chỉ huy của hoàng tử nổi tiếng và viên tướng của Umayyad, Maslamah ibn Abd al-Malik bắt đầu di chuyển về phía kinh đô.[42] Quân đội và hải quân của Quốc vương Hồi giáo, được chỉ huy bởi Maslamah, có số lượng lên đến 120.000 người, 1.800 tàu theo các nguồn khác nhau. Bất cứ con số thực tế là như thế nào, đây là một lực lượng rất lớn, lớn hơn nhiều so với quân đội của Đế quốc Byzantine. Rất may cho Hoàng Đế Leo và Đông La Mã, chiếc tường thành hướng ra biển của thành phố Constantinopolis vừa mới được sửa chữa và tăng cường. Ngoài ra, Hoàng đế vừa mới ký kết một liên minh với hãn Bulgar Tervel, người đồng ý sẽ quấy nhiễu phía sau của quân xâm lược.[43]

Từ năm 717 đến năm 718, thành phố bị bao vây từ phía đất liền và phía biển bởi người Hồi giáo, và họ đã cho xây dựng một hệ thống chiến hào, công sự quy mô ở phía đất liền để cô lập thành phố. Họ cũng nỗ lực để hoàn tất việc phong tỏa bằng đường biển nhưng đã không thành công khi hải quân Đông La Mã sử dụng "lửa Hy Lạp" để chống lại họ, hạm đội của Ả Rập phải lùi ra các bức tường thành phố, làm cho người Đông La Mã nối lại được các tuyến đường cung cấp cho Constantinopolis, Bị buộc phải kéo dài cuộc bao vây sang mùa đông, đội quân bao vây bị thương vong một cách khủng khiếp từ cái lạnh và thiếu cung cấp.[44]

Vào mùa xuân, quân tiếp viện mới được gửi đến bởi vị Khalip mới, Umar ibn Abd al-Aziz (trị vì 717-720), bằng đường biển từ châu Phi và Ai Cập và trên đất qua Tiểu Á. Các thủy thủ đoàn của các hạm đội mới chủ yếu là người Kitô giáo, đã bắt đầu đào ngũ với số lượng lớn, trong khi các lực lượng trên bộ bị phục kích và đánh bại tại Bithynia. Khi nạn đói và bệnh dịch hạch tiếp tục tấn công vào doanh trại của người Ả Rập, cuộc bao vây đã phải chấm dứt vào ngày 15 tháng 8 năm 718. Lúc hạm đội Ả Rập quay trở về họ đã phải chịu đựng thêm các tổn thất thêm do các cơn bão và một ngọn núi lửa ở Thera phun trào.[45]

Bình ổn vùng biên giới, 718-863[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ của khu vực biên giới Đông La Mã-Ả Rập ở đông nam Tiểu Á, quanh dãy Taurus-Antitaurus

Làn sóng đầu tiên của cuộc chinh phục Hồi giáo đã kết thúc với cuộc vây hãm Constantinopolis năm 718, và mặc dù các cuộc xung đột sau đó tiếp tục đến tận thế kỷ 11, những cuộc chinh phục của người Ả Rập bắt đầu chậm lại. Một biên giới thường xuyên trên bộ được thiết lập dọc theo sườn phía đông của vùng Anatolia, chủ yếu là để tăng cường phòng thủ từ cả hai phía. Người Ả Rập tiếp tục các cuộc tấn công vào vùng Anatolia cuả Đông La Mã một cách thường xuyên trong tương lai, nhưng thực chất chúng không còn là những cuộc chinh phục nữa. Đông La Mã dần dần chuyển sang thế tấn công, và thu hồi được nhiều vùng lãnh thổ trong thế kỷ thứ 10, tuy nhiên sau năm 1071 họ lại bị mất những vùng lãnh thổ này vào tay người Seljuk.

Umayyad đổi mới kiểu đột kích và sự trỗi dậy của eikono-doulos[sửa | sửa mã nguồn]

Sau thất bại trong việc công chiếm Constantinopolis năm 717-718, trong một thời gian Umayyad chuyển hướng sự chú ý của họ sang nơi khác, cho phép Đông La Mã thực hiện một loạt các cuộc tấn công để chiếm lại quyền kiểm soát ở Armenia. Tuy nhiên từ năm 720.721 quân đội Ả Rập lại tiếp tục cuộc tấn công của họ vào Đế quốc Đông La MãAnatolia, mặc dù bây giờ họ không còn mục là tiêu chinh phục, nhưng các cuộc tấn công vẫn diễn ra với quy mô khá lớn, với mục đích là cướp bóc và tàn phá các vùng nông thôn và chỉ thỉnh thoảng mới tấn công vào các pháo đài hoặc các khu định cư lớn.[46]

Để giải đáp cho cuộc xâm lược kiểu mới của người Ả Rập và một chuỗi các thảm họa tự nhiên như những vụ phun trào của núi lửa đảo Thera, Hoàng đế Leo III nhà Isaurian kết luận rằng đế quốc đã mất đi quyền lợi thiêng liêng. Vào năm 722 ông đã cố gắng ép buộc người Do Thái trong Đế chế phải chuyển đổi tín ngưỡng của họ nhưng ngay sau đó ông bắt đầu chuyển sự chú ý của mình đến các biểu tượng của sự tôn kính mà một số giám mục đã xem như là sự sùng bái.[47]

Năm 726, Leo công bố một sắc lệnh lên án việc lợi dụng các biểu tượng và ông ngày càng lên tiếng chỉ trích các eikono-doulos ("sự sùng kính các biểu tượng"), cho đến khi ông chính thức lệnh cấm vẽ các nhân vật tôn giáo trong một hội đồng tòa án ở năm 730.[48][49] Quyết định này gây nên sự phản đối lớn từ người dân và nhà thờ, đặc biệt là Đức Giáo hoàng, mà Leo đã không cần quan tâm. Theo lời của Warren Treadgold: "Ông thấy không cần phải tham khảo ý kiến cuả nhà thờ và dường như ông đã bị ngạc nhiên bởi thấy sự phản ứng sâu, rộng và phổ biến của phe đối lập mà ông gặp phải".[48][49] Cuộc tranh cãi làm suy yếu Đế chế Đông La Mã và là một yếu tố quan trọng trong sự ly khai giữa Thượng phụ Constantinopolis và Giám mục Roma.[50][51]

Từ năm 750 và 770, Constantinus đã phát động một loạt các chiến dịch phản công chống lại người Ả Rập và Bulgar trong một nỗ lực để đảo ngược tình hình nhưng đã phải chịu rất nhiều tổn thất. Các cuộc nội chiến xảy ra trong đế quốc Đông La Mã thường có sự hỗ trợ của người Ả Rập. Với sự hỗ trợ của Caliph Al-Ma’mun – Người Ả Rập, một cuộc nổi loạn được dấy lên bởi Thomas người Slav và chỉ trong vài tháng, chỉ có hai themata ở Tiểu Á là vẫn trung thành với Hoàng đế Michael II. Khi người Ả Rập chiếm Thessalonica, thành phố lớn thứ hai của đế quốc, nó đã nhanh chóng bị chiếm lại bởi người Đông La Mã. Cuộc bao vây của Thomas vào Constantinopolis năm 821 đã không vượt qua đươc bức tường thành phố, và ông này đã buộc phải rút lui.[52][53]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

^  a:  Politico-religious events (such as the outbreak of Monothelitism, which disappointed both the Monophysites and the Chalcedonians) had sharpened the differences between the Byzantines and the Syrians. Also the high taxes, the power of the landowners over the peasants and the participation in the long and exhaustive wars with the Persians were some of the reasons why the Syrians welcomed the change.[54]
^  b:  As recorded by Al-Baladhuri. Michael the Syrian records only the phrase "Peace unto thee, O Syria".[55] George Ostrogorsky describes the impact that the loss of Syria had on Heraclius with the following words: "His life's work collapsed before his eyes. The heroic struggle against Persia seemed to be utterly wasted, for his victories here had only prepared the way for the Arab conquest [...] This cruel turn of fortune broke the aged Emperor both in spirit and in body.[56]
^  c:  As Steven Runciman describes the event: "On a February day in the year AD 638, the Caliph Omar [Umar] entered Jerusalem along with a white camel which was ride by his slave. He was dressed in worn, filthy robes, and the army that followed him was rough and unkempt; but its discipline was perfect. At his side rode the Patriarch Sophronius as chief magistrate of the surrendered city. Omar rode straight to the site of the Temple of Solomon, whence his friend Mahomet [Muhammed] had ascended into Heaven. Watching him stand there, the Patriarch remembered the words of Christ and murmured through his tears: 'Behold the abomination of desolation, spoken of by Daniel the prophet.'"[57]
^  d:  Hugh N. Kennedy notes that "the Muslim conquest of Syria does not seem to have been actively opposed by the towns, but it is striking that Antioch put up so little resistance.[58]
^  e:  The Arab leadership realized early that to extend their conquests they would need a fleet. The Byzantine navy was first decisively defeated by the Arabs at a battle in 655 off the Lycian coast, when it was still the most powerful in the Mediterranean. Theophanes the Confessor reported the loss of Rhodes while recounting the sale of the centuries-old remains of the Colossus for scrap in 655.[59]

Trích dẫn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b The Empire's levies included Christian Armenians, Arab Ghassanids, Mardaites, Slavs, and Rus'
  2. ^ "Ghassan." Encyclopædia Britannica. 2006. Encyclopædia Britannica Online. 18 October 2006 [1]
  3. ^ Theophanes, Chronicle, 317–327
    * Greatrex–Lieu (2002), II, 217–227; Haldon (1997), 46; Baynes (1912), passim; Speck (1984), 178
  4. ^ Foss (1975), 746–47; Howard-Johnston (2006), xv
  5. ^ Liska (1998), 170
  6. ^ Kaegi (1995), 66
  7. ^ Nicolle (1994), 14
  8. ^ "Muhammad", Late Antiquity; Butler (2007), 145
  9. ^ a b c Kaegi (1995), 67
  10. ^ Nicolle (1994), 47–49
  11. ^ a b Kaegi (1995), 112
  12. ^ Nicolle (1994), 45
  13. ^ http://www.fordham.edu/halsall/source/yarmuk.html
  14. ^ Zonaras, Annales, CXXXIV, 1288
    * Sahas (1972), 20
  15. ^ Kennedy (1998), 62
  16. ^ Butler (2007), 427–428
  17. ^ Davies (1996), 245, 252
  18. ^ Butler (2007), 465–483
  19. ^ a b Read (2001), 51
  20. ^ Haldon (1999), 167; Tathakopoulos (2004), 318
  21. ^ Treadgold (1997), 312
  22. ^ Fage–Tordoff, 153–154
  23. ^ Norwich (1990), 334
  24. ^ Will Durant, The History of Civilization: Part IV—The Age of Faith. 1950. New York: Simon and Schuster. ISBN 0-671-01200-2
  25. ^ The Islamic World to 1600: Umayyad Territorial Expansion.
  26. ^ Clark, Desmond J.; Roland Anthony Oliver, J. D. Fage, A. D. Roberts (1978) [1975]. The Cambridge History of Africa. Cambridge University Press. tr. 637. ISBN 0-521-21592-7. 
  27. ^ a b Edward Gibbon, History of the Decline and Fall of the Roman Empire, Chapter 51.
  28. ^ Luis Garcia de Valdeavellano, Historia de España. 1968. Madrid: Alianza.
  29. ^ Kaegi (1995), pp. 236–244
  30. ^ Pryor & Jeffreys (2006), tr. 25
  31. ^ Treadgold (1997), các trang 313–314
  32. ^ Kennedy (2004) pp. 120, 122
  33. ^ Kaegi (1995), các trang 246–247
  34. ^ Treadgold (1997), các trang 325–327
  35. ^ The Walls of Constantinople, AD 324–1453, Osprey Publishing, tr. 42, ISBN 1-84176-759-X.
  36. ^ Greek Fire, greece.org
  37. ^ Encyclopædia Britannica, Greek Fire
  38. ^ Mayor, Adrienne (2008). Greek Fire, Poison Arrows, and Scorpion Bombs: Biological & Chemical Warfare in the Ancient World. Penguin Group US. tr. 24. ISBN 9781590203743. 
  39. ^ Karen Armstrong: Islam: A Short History. New York, NY, USA: The Modern Library, 2002, 2004 ISBN 0-8129-6618-X
  40. ^ a b c Davies (1996), 245
  41. ^ a b 1911 Encyclopædia Britannica [2]
  42. ^ Treadgold (1997), các trang 337–345
  43. ^ Treadgold (1997), các trang 346–347
  44. ^ Treadgold (1997), p. 347
  45. ^ Treadgold (1997), các trang 347–349
  46. ^ Treadgold (1997), các trang. 349ff.
  47. ^ Kennedy (2004) tr. 120
  48. ^ a b Treadgold (1997), các trang 350–353
  49. ^ a b Whittow (1996), các trang 139–142
  50. ^ Europe: A History, p273. Oxford: Oxford University Press 1996. ISBN 0-19-820171-0
  51. ^ Europe: A History, p246. Oxford: Oxford University Press 1996. ISBN 0-19-820171-0
  52. ^ Blankinship (1994), các trang 20, 168–169, 200
  53. ^ Treadgold (1997), các trang 354–355
  54. ^ Read (2001), 50-51; Sahas (1972), 23
  55. ^ Al-Baladhuri, The Battle of the Yarmuk (636) and after; Michael the Syrian, Chronicle, II, 424
    * Sahas (1972), 19–20
  56. ^ Quoted by Sahas (1972), 20 (note 1)
  57. ^ Runciman (1953), i, 3
  58. ^ Kennedy (1970), 611; Kennedy (2006), 87
  59. ^ Theophanes, Chronicle, 645–646
    * Haldon (1990), 55

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu sơ cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu thứ cấp[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Library resources box

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kennedy, Hugh N. (2006). The Byzantine And Early Islamic Near East. Ashgate Publishing. ISBN 0-7546-5909-7.