Trận Mollwitz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Trận Mollwitz
Một phần của Chiến tranh Kế vị Áo
Schlacht bei Mollwitz.jpg
Trận Mollwitz - chiến thắng đầu tiên của Quân đội Phổ thời vua Friedrich II Đại Đế.
.
Thời gian 10 tháng 2 năm 1741
Địa điểm Mollwitz, tỉnh Silesia
Kết quả Chiến thắng quyết định của Quân đội Phổ
Tham chiến
 Prussia Cờ của Quân chủ Habsburg Áo[1]
Chỉ huy
Cờ của Vương quốc PhổFriedrich II Đại Đế
Cờ của Vương quốc PhổBá tước Schwerin
Cờ của Quân chủ Habsburg Thống chế Wilhelm Reinhard von Neipperg
Lực lượng
23.400 quân tinh nhuệ[2] 16.600 binh sĩ[2]
Tổn thất
4.849 binh sĩ hy sinh hoặc bị thương
700 binh sĩ bị bắt [3]
4.551 binh sĩ hy sinh hoặc bị thương
1.500 binh sĩ bị bắt [4]
.

Trận Mollwitz là một trận đánh giữa Vương quốc PhổĐế quốc Áo vào ngày 10 tháng 4 năm 1741, trong giai đoạn đầu của cuộc Chiến tranh Kế vị Áo. Sau khi vua Friedrich II Đại Đế thân chinh kéo các chiến binh đi chinh phạt tỉnh Silesia của Áo vào năm 1740, quân Áo đã phản công vào năm sau và dẫn tới trận đánh này.[5] Đây là trận đánh đầu tiên của vua Phổ Friedrich II Đại Đế kể từ lúc ông lên nối ngôi báu vào năm 1740. Tuy ban đầu lực lượng Kỵ binh Phổ bị đánh tan tác và bản thân vị vua - chiến binh Friedrich II Đại Đế phải rút khỏi trận đánh, lực lượng Bộ binh tinh nhuệ do vị Bá tước quyết đoán Kurt Christoph von Schwerin thống lĩnh đã đại phá được quân Áo vô kỷ luật.[6] Và sau chiến thắng này, vua Friedrich II Đại Đế cùng các chiến binh của ông sẽ còn tiếp tục tiến lên trên đà thắng lợi.[5]

Quân Phổ thắng và đây là trận đánh đầu tiên trong sự nghiệp của nhà vua nước Phổ Friedrich II Đại Đế.[7] Nhà vua sáng tác bản "Hành khúc Mollwitz" (Mollwitzer-Marsch) trong doanh trại quân đội, chỉ vài ngày sau chiến thắng tại Mollwitz để kỷ niệm chiến thắng đầu tiên của mình.[8] Đối với lực lượng Bộ binh tinh nhuệ Phổ, họ quyết định đến chiến thắng của quân Phổ trong trận đánh này là nhờ trình độ kỷ cương và hỏa lực của họ mạnh hơn hẳn quân giặc, cho nên họ liên tiếp đánh lui những cuộc tấn công của lực lượng Kỵ binh Áo. Mà lực lượng Bộ binh Phổ hùng hậu đến vậy, là bằng chứng cho thấy thành công trong việc huấn luyện ba quân của vị vua - chiến binh Friedrich Wilhelm I vừa qua đời.[9] Một tên tù binh Áo trong trận đánh này phải gọi lực lượng Bộ binh tinh nhuệ Phổ là "những bức tường biết đi".[10]

Chiến thắng Mollwitz cho thấy sự trỗi dậy của một cường quốc non trẻ. Sau trận thắng này, Quân đội Phổ chiếm lấy các vùng Britz và Neisse. Cả châu Âu trở nên bất ngờ trước sự táo bạo của vị "vua - triết gia" Friedrich II.[11] Ông đã chiếm được toàn bộ miền Hạ Silesia (phía tây bắc Silesia).[12][13]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Là một vị vua, nhà quân phiệt đầy tham vọng,[14][15] Friedrich II Hohenzollern mong muốn đổi mới và thống nhất những vùng đất cát cứ trong Vương quốc của mình. Vua Friedrich Wilhelm I, trị vì nước Phổ từ năm 1713 cho đến năm 1740, đã gây dựng lực lượng Quân đội Phổ với 8 vạn quân tinh nhuệ và truyền ngôi cho vua con Friedrich II Đại Đế.[16][17] Tân Quốc vương Friedrich II luôn mong muốn chiếm được Silesia - một tỉnh giàu có nhất của Đế quốc Áo thời đó.[18] Vì vậy, ông quyết định chống lại "Đạo luật Thừa kế năm 1713" (theo đó Maria Theresia sẽ thừa kế toàn bộ lãnh thổ của Đế quốc Áo - Habsburg), để tạo nên "điểm hẹn của sự huy hoàng" trong cuộc đời ông.[19] Ngoài ra, ông cũng lo ngại rằng, nhà vua Ba Lan August III, cũng là Tuyển hầu tước Friedrich August II xứ Sachsen, sẽ tìm cách nối lại những vùng đất nằm rời rạc của ông thông qua tỉnh Silesia. Do đó, cả thế giới đều hay tin tân vương Friedrich II quyết định thực hiện giấc mơ của mình.[20] Cụ thể hơn, ông liền mang 28.000 quân Phổ đi đánh vùng đất Silesia[21] vào ngày 16 tháng 12 năm 1740, lấy cớ là làm theo một hiệp ước được Vương triều Hohenzollern và Vương triều Piast xứ Brieg (Brzeg) ký kết vào năm 1537, mà hầu như không ai biết đến. Trước đó, ông đã đề nghị Nữ hoàng Maria Theresia nhượng cho ông các vùng Glogau và Silesia, đổi lại ông sẽ tôn chồng bà làm Hoàng đế La Mã Thần thánh Franz I, nhưng bà không hồi âm.[22]

Ngay từ ngày ngày 6 tháng 12 năm 1740, các Sứ quán nước ngoài tại kinh đô Berlin hay tin nhà vua mặc giáp xông pha trận trận mạc.[23] Vào ngày 13 tháng 12 năm 1740, vị "vua - triết gia - nhạc sĩ" mở đầu sự nghiệp của "một trong những danh tướng xuất sắc nhất mọi thời đại".[23] Sau một buổi khiêu vũ trong Hoàng cung, tân Quốc vương Friedrich II lên xe ngựa, và đọc bài diễn văn trước ba quân, thể hiện sự thận trọng của vị vua - học giả - chiến binh:[24]

Hỡi ba quân, Quả nhân đang phát động một cuộc chiến tranh, với đồng minh là lòng dũng cảm và trung thành của các Ngươi. Trẫm chỉ có lý do tuyên chiến như sau: chúng ta cần phải mang lại lợi ích cho Trẫm, và để muôn dân được chung sống hạnh phục. Lần lượt nhớ lại những chiến thắng huy hoàng của cha ông ta trên thảo nguyên Warszawa, tại Fehrbellin hay trong công cuộc khai quốc Phổ. Số mệnh của ba quân nằm trong tầm tay của các Ngươi đó: những đợt thăng quân hàm và vinh dự đang chờ đợi ba quân, chúng sẽ xứng đáng với lòng dũng cảm của các Ngươi.

Nhưng để ba quân đại thắng thì Trẫm phải làm gì? Có một thứ mà các Ngươi cần phải chú ý, đó là thực lực của Trẫm và ba quân. Các Ngươi thấy đấy, phía trước các Ngươi là một lực lượng Quân đội từng nhận biết bao lời tán dương khi Vương công Eugene thống lĩnh họ. Giờ đây, Vương công Eugene không còn nữa, Trẫm và ba quân sẽ có kế sách riêng, để áp đảo những tên giặc táo tợn. Nếu cuộc chinh phạt của chúng ta thành công, vinh quang sẽ đến với chúng ta: chúng ta sẽ trở nên vĩ đại hơn! Vĩnh biệt! Hãy tiến về phía trước! Ngay lập tức, Quả nhân sẽ theo sau các Ngươi, để cùng các Ngươi nhận lấy sự huy hoàng đang mong chờ chúng ta.

—Friedrich Đại đế

Trận chiến[sửa | sửa mã nguồn]

Sơ đồ trận đánh

Quân đội Phổ tấn công vào quân Áo bằng hai cánh, nhưng 6 trung đoàn kỵ binh của Áo có tới 4500 - 5000 người. Họ xua ngựa tấn công về phía cánh phải của quân Phổ và đập tan cánh này của quân Phổ. Điều này khiến cánh trái phải mở rộng và tấn công vào kỵ binh Áo và sau đó đánh bật được nhũng bộ binh không được bảo vệ. Chỉ huy quân Phổ, Bá tước Schwerin khuyên nhà vua hãy rời khỏi trận chiến. Sau đó Friedrich rời khỏi bãi chiến trường ác liệt, về nghỉ tại một nhà máy gần đó. Tuy lực lượng kỵ binh bị đánh tan rã, và bản thân vua Friedrich II cũng phải rời khỏi trận chiến, nhưng rồi cuối cùng lưc lượng bộ binh tinh nhuệ do Bá tước Schwerin chỉ huy đã xoay ngược tình thế. Nhiều nhà sử gia tin rằng Schwerin khuyên Friedrich rời khỏi trận đánh là có chủ ý, có thể là để tự mình chỉ huy vì ông đã có nhiều kinh nghiệm trên chiến trường hơn vị tân vương trẻ tuổi. Khung cảnh rất hỗn loạn vì các đơn vị được triển khai nằm vuông góc với cánh quân Phổ đã bỏ chạy hoặc vô tình bắn nhầm vào quân Phổ đang giao chiến với kỵ binh Áo, tuy nhiên, một đặc điểm có thể thấy là, quân Phổ đã được vị cựu vương Friedrich Wilhelm I đào tạo một cách chuyên nghiệp, vì vậy tiêu diệt đoàn quân này là không dễ. Đột nhiên, quân Phổ chuyển hướng bắn vào kỵ binh Áo, gây thiệt hại lớn cho quân Áo. Chỉ huy kỵ binh Áo, tướng Römmer tử trận vì nhận một phát súng hỏa mai của Phổ, với việc hai nhà lãnh đạo hai cánh chết, một sĩ quan hỏi Schwerin: Thưa ngài, liệu chúng ta có nên rút lui ? Schwerin trả lời: Chúng ta sẽ rút lui vào lòng quân địch!

Cánh phải Phổ sớm khôi phục lại tình thế, bộ binh Phổ tiếp tục tấn công và sớm đành vào trung tâm kẻ thù, kể từ khi họ sở hữu một trong những lực lượng bộ binh tinh nhuệ nhất châu Âu, họ đã có thể bắn 5-6 phát súng trong một phút. Cuối cùng "những bức tường biết đi" đã đập tan quân Áo. Quân Áo hốt hoảng bỏ chạy, Friedrich Đại đế giành chiến thắng và đây là chiến thắng đầu tiên trong sự nghiệp chinh chiến của vị vua - chiến binh.

Ý nghĩa lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chiến thắng tại Mollwitz đã nâng cao sự huy hoàng và uy thế của Friedrich II Đại Đế. Nhưng tuy ông đã giành chiến thắng, trận đánh tại Mollwitz không quyết định được cuộc chiến. Song, dần dần tình thế trở nên có lợi cho ông:[6] chiến thắng tại Mollwitz đã nâng cao sự huy hoàng mang lại lợi thế chính trị cho ông: nước Pháp liên minh với ông.[9] Bởi lẽ, thắng lợi này đã chứng tỏ với phong kiến Áo rằng Đế quốc Habsburg có thể bị phân chia.[25] Thắng lợi lớn đầu tiên của vị vua nước Phổ này cũng báo hiệu sự vươn lên của một quốc gia ham chiến trận ở châu Âu.[26] cũng Một năm sau, ông tiếp tục đè bẹp quân Áo trong trận đánh tại Chotusitz (1742).[27] Chiến thắng tại Chotusitz cũng giống như chiến thắng tại Mollwitz trước đó: lực lượng Bộ binh hùng hậu của nhà vua đã cứu thoát ông khỏi hậu quả của những tính toán sai lầm của ông.[28] Sau này, với chiến thắng huy hoàng của ông tại Leuthen (1757), tên tuổi của vị vua - chiến binh Friedrich II Đại Đế gắn liền với chiến thuật "đánh dọc sườn" (oblique order) trứ danh. Và trong khi giữa các nhà sử học không có sự thống nhất về câu trả lời của câu hỏi: "Nhà vua đã sử dụng chiến thuật đánh dọc sườn từ khi nào?", Otto Herrmann cho rằng ông đã tiến hành đánh dọc sườn kể từ hai trận thắng đầu tiên tại Mollwitz và Chotusitz.[29]

Công cuộc chinh phạt tỉnh Silesia đã mang lại cho Hoàng gia Phổ 3.600.000 thaler. Nhà vua dùng phần lớn chiến lợi phẩm này để xây dựng Quân đội Phổ, do đó, vào năm năm 1741, họ có đến 106 tiểu đoàn và 161 sư đoàn Kỵ binh.[30] Và vùng Glogau giờ đây cũng là của nhà vua nước Phổ.[31] Ông vốn đã chinh phạt xứ Glogau vào ngày 23 tháng 12 năm 1740, và để lại một đoàn quân chiếm đóng tại đây.[32] Sau đó, ông và lực lượng Bộ binh tuyệt hảo giành chiến thắng trước quân Áo trong trận Mollwitz vào ngày 10 tháng 4 năm 1741 và quyết định vận mệnh của toàn dân tỉnh Silesia, dù ông rút khỏi chiến trường giữa trận kịch chiến.[22][33] Cũng giống như Quận công Wellington: vị anh hùng ngoan cường không thành công lắm trong lần thử sức đầu: ông chỉ thể hiện một ít lòng dũng cảm của mình, và rút lui sau đợt tấn công bất thành đầu tiên của Kỵ binh Phổ, nhưng Quân đội Phổ thắng trận nhờ có lực lượng Bộ binh chiến đấu tuyệt vời đập tan quân Áo đông đảo hơn, rồi ông hay tin chiến thắng khi đó nghỉ trong một nhà máy. Trước khi xuất quân chinh phạt tỉnh Silesia, một số người cho rằng hành động táo bạo của nhà vua là liều lĩnh và gây nguy hiểm đến nước Phổ, thế nhưng, trong những giờ phút cuối cùng của năm 1740, ông cùng một đoàn Kỵ binh và lính ném lựu đạn tiến đến cổng thành Breslau và đóng quân tại Schweidnitz. Thấy vị Quốc vương Tin Lành ấy, nhân dân Tin Lành vui vẻ mở cổng thành Breslau mà chào đón Quốc vương. Tất cả các tầng lớp nhân dân đều kính mến vị vua chiến thắng này.[32] Không những thế, Quốc vương Friedrich II cũng chinh phạt vùng Brieg,[34] sau đó ông hội kiến với một cánh quân khác vừa đánh bại quân Áo. Trong vòng sáu tuần, nhà vua ca khúc khải hoàn trở về kinh thành Berlin.[22] Vào ngày 9 tháng 1 năm 1741, ông viết thư gửi Thủ tướng Chính phủ Phổ - Brandenburg là Heinrich von Podewils:[35]

Thành Breslau (thủ phủ xứ Silesia) giờ đây là của Trẫm.

—Friedrich Đại đế

Nhà vua - vốn say mê nghiên cứu binh pháp - coi trận đánh đầu tiên tại Mollwitz là "một ngôi trường" của mình.[36] Quả nhiên, chiến thắng tại Mollwitz cho thấy ông cần phải cải thiện lực lượng Kỵ binh của mình. Và ông đã bỏ thời gian ra huấn luyện cho họ,[6] không những thế, ông còn xây dựng lực lượng Pháo binh vì quân Áo có thế mạnh về Kỵ binh và Pháo binh.[37] Thế rồi sau này, lực lượng Kỵ binh tinh nhuệ Phổ đã không phụ lòng nhà vua với chiến thắng lừng lẫy tại Hohenfriedberg (1745).[38]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 1911 Encyclopedia Britannica, entry National Flags: "The Austrian imperial standard has, on a yellow ground, the black double-headed eagle, on the breast and wings of which are imposed shields bearing the arms of the provinces of the empire. The flag is bordered all round, the border being composed of equal-sided triangles with their apices alternately inwards and outwards, those with their apices pointing inwards being alternately yellow and white, the others alternately scarlet and black." Also, Whitney Smith, Flags through the ages and across the world, McGraw-Hill, England, 1975 ISBN 0-07-059093-1, pp.114 - 119, "The imperial banner was a golden yellow cloth...bearing a black eagle...The double-headed eagle was finally established by Sigismund as regent...".
  2. ^ a ă Chandler: The Art of Warfare in the Age of Marlborough, p.306: All statistics taken from Chandler
  3. ^ Meyers Konversations-Lexikon, trang 315, tập XIV
  4. ^ Meyers Konversations-Lexikon, trang 314, tập XIV
  5. ^ a ă Christopher Duffy, The military experience in the age of reason, trang 322
  6. ^ a ă â Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, các trang 83-84.
  7. ^ Christopher Duffy, The military experience in the age of reason, trang 249
  8. ^ Christopher Duffy, The army of Frederick the Great, trang 141
  9. ^ a ă Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 4
  10. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 31
  11. ^ W. Sanford Ramey, Kings of the Battle Field, trang 171
  12. ^ Asprey, Frederick the Great: the Magnificent Enigma, trang 195-208.
  13. ^ Charles C. Savage, Illustrated biography; or, Memoirs of the great and the good of all nations and all times: comprising sketches of eminent statesmen, philosophers, heroes, artists, reformers, philanthropists, mechanics, navigators, authors, poets, divines, soldiers, savans, etc, trang 272
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên gerhardritte
  15. ^ George Jellinek, History through the opera glass: from the rise of Caesar to the fall of Napoleon, trang 255
  16. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 95
  17. ^ Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, trang 192
  18. ^ Koch, A History of Prussia, trang 105.
  19. ^ Eleanor L. Turk, The history of Germany, trang 57
  20. ^ W. F. Reddaway, "Frederick the Great and the Rise of Prussia", các trang 148-153, trang 274, trang 288, trang 336, trang 344.
  21. ^ W. Sanford Ramey, sách đã dẫn, trang 170, trang 234.
  22. ^ a ă â The new American cyclopaedia: a popular dictionary of general knowledge, Tập 7, các trang 727-728.
  23. ^ a ă C B Brackenbury, C. B. Brackenbury, Frederick the Great, trang 53
  24. ^ Lewis Copeland, Lawrence W. Lamm, Stephen J. McKenna, The world's great speeches, trang 69
  25. ^ J. H. Shennan, International Relations in Europe, 1689-1789, trang 43
  26. ^ LIFE 22 Tháng 4 1940, trang 24
  27. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 86
  28. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 49
  29. ^ Christopher Duffy, Frederick the Great: A Military Life, trang 309
  30. ^ J. Ellis Barker, The Foundations of Germany, các trang 80-81, trang 83.
  31. ^ Peter N. Stearns, William Leonard Langer, sách đã dẫn, các trang 317-318.
  32. ^ a ă Thomas Campbell, Frederick the Great and His Times, Tập 2, các trang 80-81. Frederick the Great, his court and times, Tập 1, các trang 240-241. Tập 3, trang 189 về chiến thắng Zorndorf.
  33. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên 2ss1332s
  34. ^ Bernard Grun, Werner Stein, The timetables of history: a horizontal linkage of people and events, based on Werner Stein's Kulturfahrplan, Simon and Schuster, 1979, trang 340
  35. ^ Norwood Young, The Life of Frederick the Great, trang 90, các trang 122-129, các trang 139-140.
  36. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 46
  37. ^ Jay Luvaas, Frederick the Great on the Art of War, trang 12
  38. ^ Gerhard Ritter, Frederick the Great: a historical profile, trang 91

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]