Erich von Falkenhayn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Erich von Falkenhayn

Erich von Falkenhayn (11 tháng 9 năm 1861 - 8 tháng 4 năm 1922) là một quân nhân người Đức và là Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Đế chế Đức từ 1914 đến 1916 trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đảm nhiệm chức vị này sau khi Tổng Tham mưu trưởng Helmut von Molke Nhỏ bị sa thải.[1] Trước khi cuộc chiến tranh bùng nổ, do tham vọng của mình, ông từng phục vụ lực lượng Quân đội Phổ tại Trung Quốc,[2] và đã gây ấn tượng cho Hoàng đế Wilhelm II, nên được thăng quan tiến chức nhanh chóng.[3] Ông đã tham gia nhiều trận đánh lớn trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, trong đó ông chỉ huy xuất sắc quân Đức trong chiến dịch năm 1915 trên Mặt trận phía Đông, mang lại chiến thắng lẫy lừng cho Quân đội Đức cùng tổn thất khủng khiếp cho quân Nga, cho dù không thể loại Nga ra khỏi vòng chiến.[4]

Cũng chính ông là vị danh tướng đã mở trận Verdun (1916) nhằm hạ gục Quân đội Pháp và buộc Chính phủ Pháp phải cầu hòa, song trận ác chiến này chỉ đem lại tình hình bế tắc cho quân đội cả hai bên với tổn thất khủng khiếp[5]. Quân Anh đánh trận đẫm máu ở sông Somme để cứu Pháp, gây cho Đức càng khó khăn và Falkenhayn mất chức.[6] Tuy nhiên, ông được ca ngợi là vị tướng lĩnh có tầm nhìn xa trông rộng hàng đầu về chiến sự cận - hiện đại của phe Liên minh Trung Tâm.[4] Chiến thắng lẫy lừng của quân Đức trước quân România vào cuối năm 1916 thể hiện rõ tài nghệ quân sự của ông.[7] Ông cũng được ca ngợi là một vị tướng soái mẫu mực của Nhà nước phong kiến quân sự Phổ.[1]

Với công lao to lớn của ông trong việc đưa nước Đức từ sau chiến bại thảm hại trong trận sông Marne lần thứ nhất vào tình hình ổn định, thậm chí là thắng lợi, ông trở thành một trong những vị thống soái tài giỏi nhất trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, với tinh thần chuyên cần và tàn nhẫn.[8]

Cuộc đời[sửa | sửa mã nguồn]

Trước Thế chiến thứ nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Falkenhayn sinh ra tại Burg Belchau gần Graudenz thuộc Vương quốc Phổ, trong một gia đình quý tộc phong kiến.[3] Thiếu thời, bước tiến trên đường đời của ông khác với các Sĩ quan Đức "thường thấy" : sau khi hoàn tất việc học ở Trường Thiếu Sinh Quân, ông được lệnh gia nhập Trung đoàn Bộ Binh số 91 vào năm 1880. Tuy ông đỗ đạt gần như là "thủ khoa" của Viện Hàn lâm Chiến tranh (Kriegsacademie), Falkenhayn chỉ phụng sự ba năm trong Bộ Tổng Tham mưu Đức (1893 - 1896). Từ 1896 đến 1903, ông phục vụ Quân đội Phổ tại Trung Quốc : trong sáu năm đầu ông giảng dạy cho Quân đội nhà Thanh và cuối cùng thì ông giữ chức Tham mưu trong lực lượng viễn chinh Đức nhằm dập tắt phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, sau chiến thắng này ông trở thành phái viên của Triều đình Đức. Trong suốt thời gian này, các kẻ thù của ông đồn đại rằng ông rời bỏ Quân đội Đức và đến Trung Quốc do nợ nần chồng chất. Nhưng thực chất, việc ấy là do tham vọng của ông : Trung Quốc tạo điều kiện cho ông phá bỏ nỗi buồn chán của trách nhiệm đồn trú trong thời bình, và gây tiếng vang cho ông trên thế giới.[2] Với thắng lợi cuả cuộc trấn áp Nghĩa Hòa Đoàn, ông trở thành sủng thần của Hoàng đế Wilhelm II. Wilhelm II trở nên ấn tượng trước bản báo cáo của ông về chiến thắng trước quân Nghĩa Hòa Đoàn.[3][7] Sau đó ông lần lượt đóng quân tại nhiều nơi như Braunschweig, MetzMagdeburg cùng với việc được thăng chức. Vào năm 1913, ông trở thành Bộ trưởng Bộ Chiến tranh của Phổ. Điều này thể hiện rằng Wilhelm II sủng ái ông đến mức luôn luôn khích lệ phát triển binh nghiệp của ông,[3] thăng chức cho ông "như diều gặp gió", cao hơn hẳn 30 vị tướng lĩnh giàu kinh nghiệm khác trong lực lượng Quân đội Đức. Nhiều người trở nên không ưa ông, tuy nhiên ông rất xuất sắc trong việc lấy lòng Hoàng đế và các chính trị gia, qua đó có được sự khích lệ của Quốc hội trong việc mở rộng quân đội trước khi chiến tranh bùng nổ[7]. Sau sự kiện vụ ám sát thái tử Áo-Hung, như hầu hết những quân nhân Đức khác, ông ủng hộ Hoàng đế Wilhelm II tuyên chiến với các đế quốc khác và tham gia chiến tranh.

Tổng Tham mưu trưởng quân đội Đức[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 9 năm 1914, kế hoạch Schliffen bị phá sán do Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Đức là Helmut von Moltke Trẻ đã bị thất bại trong trận sông Marne lần thứ nhất. Triều đình Đức bấy giờ đã tìm ra một chiến tướng có tài mưu lược, sẵn sàng vận dụng những lý thuyết khác nhau trước khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất bùng nổ : đó chính là Erich von Falkenhayn. Ông thay chức Moltke Trẻ, tuy nhiên Triều đình Đức không loan tin này cho nhân dân biết mãi cho đến tận ngày 3 tháng 11 năm ấy, nhằm tránh họ nghĩ rằng trận sông Marne là một chiến bại của nước Đức.[7] Vị tân Tổn Tham mưu trưởng hiểu rõ và chấp nhận sự thay đổi về bản chất của chiến tranh tập trung thời hiện đại. Sau đó, Falkenhayn chỉ huy Quân đội Đức trong một loạt trận đánh thốc vào sườn liên quân Anh - Pháp ở miền Bắc Pháp và Bỉ nhằm chiếm khu vực bờ biển Bắc được gọi là cuộc “Chạy đua ra biển”. Cuộc “Chạy đua ra biển” kết thúc sau trận Ypres lần thứ nhất vào tháng 12 năm 1914 và sau đó mặt trận phía Tây chuyển sang chiến tranh chiến hào. Trận huyết chiến ở Ypres là lần đầu tiên những tân binh của Quân đội Đức được tung vào tham chiến. Trận chiến này đã báo hiệu cho Falkenhayn nói riêng và Bộ Tổng Tham mưu Đức nói chung biết rằng quân Đức khó thể đánh một trận quyết định trong năm 1914. Quân đội Đức đã kiệt lực sau khi trận Ypres lần thứ nhất kết thúc.[9] Tổn thất kinh hoàng của Quân đội Đức trong trận đánh này làm cho ông mất đi nhuệ khí, và giờ đây ông cẩm thấy nên do dự trước những thời khắc định đoạt.[7]

Sau khi nhận ra rằng nước Đức không thể toàn thắng ngoài xa trường, ông xóa bỏ mục tiêu truyền thống của Đức là lập nên một chiến thắng sấm sét trên chiến trường, mà thay vì đó ông thuyết phục nhà lãnh đạo chính trị của Đức là Thủ tướng Theobald von Bethmann Hollweg thương lượng hòa bình ít nhất là với một trong những kẻ thù của Đức. Cũng giống như Thống chế Helmut von Moltke Già về cuối đời, Falkenhayn giờ đây cho rằng một đại thắng quân sự sẽ có ý nghĩa to lớn nhất là một bước tiến cho việc đàm phán hòa bình.[10] Đầu năm 1915, trước những thất bại liên tiếp của quân đội Áo-Hung ở Mặt trận phía đông, Falkenhayn quyết định cho quân đội Đức phản công ở Mặt trận phía Đông để quân Nga không còn có thể đe doạ Đức và Áo nữa. Quân đội Đức cũng sẽ cầm chân tại Mặt trận phía Tây, nơi cả hai bên tham chiến đều đã kiệt quệ.[7] Ngày 2 tháng 5 năm 1915, cuộc phản công Gorlice-Tarnow bắt đầu và quân Đức ngày càng tiến sâu vào lãnh thổ Nga. Đến tháng 7, Falkenhayn ra lệnh cho Paul von Hindenburg từ phía bắc và August von Mackensen từ phía nam đánh đuổi quân Nga khỏi Ba Lan. Erich Ludendorff đề nghị tăng viện để có thể tiêu diệt hoàn toàn quân Nga nhưng Falkenhayn từ chối vì lúc này quân Đức còn nhiều mặt trận khác như chuẩn bị tăng viện đến mặt trận Balkan giúp đồng minh Áo-Hung đánh bại Serbia, mặt trận Gallipoli giúp Đế quốc Ottoman. Từ tháng 5 cho đến tháng 9 năm 1915, nhờ tài năng mưu lược của Falkenhayn mà có đến 2 triệu quân Nga bị tiêu diệt - tính đến thời điểm này thì đây là tổn thất khủng kiếp nhất của một kẻ thù của nước Đức trong chiến dịch. Tệ hại hơn nữa, những binh sĩ Nga được đào luyện tốt đều nằm trong con số thiệt mạng này, và người Đức nhận thấy rằng tầm quan trọng của tổn hại kinh hoàng này thể hiện ở chỗ là có những Sĩ quan tài ba và đầy kinh nghiệm, dễ tiếp ứng với chiến sự cận đại. Do đó, dễ hiểu tại sao Falkenhayn tin rằng quân Nga không thể tổ chức một cuộc phản công nào nữa trong tương lai. Đại thắng của Falkenhayn đã dẫn đến sự lu mờ đi tiếng tăm của hai danh tướng Paul von HindenburgErich von Ludendorff - họ vốn hay chỉ trí ông[7]. Sau buổi chầu Hoàng đế vào năm 1914, Wilhelm Groener có viết trong nhật ký của mình : "Sự trông cậy của Người vào Falkenhayn không hề lay chuyển và không thể lay chuyển được. Người (Hoàng đế Wilhelm II) tín nhiệm ông ấy (Falkenhayn), trong khi Người không có hợp tác chặt chẽ với những nhân vật ở hướng Đông (Hindenburg và Ludendorff)". Tuy nhiên, chiến thắng vẻ vang của quân Đức vẫn không thể đẩy nước Nga vào vòng thương thuyết.[4] Tháng 12 năm 1915, Serbia bị đánh bại sau khi quân đội Áo-Hung được quân Đức tăng viện tổ chức phản công.

Cuộc mạo hiểm bất đắc dĩ của ông trên Mặt trận phía Đông trong Xuân - Hè năm 1915 đã gây rắc rối cho các kế hoạch của người Đức trên Mặt trận phía Tây. Ông trở nên thất vọng trước việc tình hình cả hai mặt trận vẫn cứ bế tắc trong khi đất đai của người Đức chiếm lĩnh được là chẳng đáng kể. Sau khi Bethmann Hollweg thất bại trong việc đề nghị người Nga lập lại hòa bình từ cuối năm 1914 cho đến năm 1915, Falkenhayn chuyển tầm hướng của ông sang Mặt trận phía Tây, mà ông cho rằng Mặt trận quan trọng nhất trong cuộc đại chiến.[11] Cuối năm 1915, Falkenhayn trình cho Wilhelm II một bản ghi nhớ chiến lược theo đó quân Đức sẽ không thể tạo được một bước ngoặt ở bất cứ nơi đâu trong cuộc chiến. Đối với Mặt trận phía Đông thì có thể xem nhẹ do nước Nga đang lâm vào khủng hoảng, do đó một cơn bão Cách mạng Nga sớm muộn sẽ ập đến - đây là giải thiết đúng đắn của ông. Vả lại, dẫu sao đi nữa thì chiến thắng của quân Đức tại đó cũng đã làm cho quân Nga bị yếu đi nhiều.[7] Do đó Falkenhayn đề nghị nước Đức tập trung sinh lực đánh vào Pháp, nhằm "chích máu giặc Pháp". Và cứ theo cái đà đó quân Đức sẽ thỏa sức vây đánh cho đến khi Pháp phải đầu hàng, và với chiến thắng ấy thì Anh cũng sẽ suy sụp, còn Nga đang sa ngã hẳn là cũng phải ra hàng mà thôi. Đến khi ấy, Đế chế Đức sẽ toàn thắng. Mặc dù coi nước Anh là kẻ thù nghiêm trọng nhất của Đức, nhưng dự định nêu trên cho thấy ông muốn hạ gục Anh thông qua đánh bại Pháp. Sự quan tâm như vậy của ông đối với Mặt trận phương Tây khiến cho ông có biệt hiệu là "Người Tây phương".[3] Kế hoạch của ông được Hoàng đế Wilhelm II chấp thuận.

Và, vào ngày 21 tháng 2 năm 1916, trận Verdun mở màn. Falkenhayn có thêm một lập luận xác đáng nữa là Verdun không có ý nghĩa về quân sự, nhưng mà về biểu tượng : trong cuộc Chiến tranh Pháp-Phổ (1870 - 1871), thành cổ này trước sức tấn công của quân Đức đã chống trả kiên cường, và chỉ đầu hàng khi Chính phủ Pháp đại bại phải xin hàng. Quân Đức hẳn là sẽ tổn thất nặng nề nhưng họ có nhiều tài nguyên hơn quân Pháp, và mất thành cổ này đồng nghĩa với mất sạch tinh thần Quân đội Pháp.[12] Falkenhayn tỏ ra không quyết đoán vì tuy ông rắp tâm "chích máu" quân địch nhưng ông lại không hề nghĩ đến chuyện có nền chiếm lấy thành cổ Verdun hay là không.[13] Ông cũng tin rằng một cuộc pháo kích dữ dội chưa từng có sẽ giúp người Đức nhanh chóng giành thắng lợi nhưng thực tế đã không diễn ra như vậy. Quân Đức dễ dàng chiếm được pháo đài Douaumont, vành đai ngoài cùng của Verdun nhưng càng vào sâu thương vong của cả hai bên lại càng tăng và Verdun dần trở thành một “cối xay thịt”. Trận huyết chiến Verdun trở thành một trong những trận đánh khốc liệt nhất trong lịch sử nhân loại. Tuy vậy, Falkenhayn cho rằng Pháp ngày càng thiệt hại nặng nên ông vẫn tiếp tục nỗ lực đánh chiếm Verdun cho đến khi quân Nga đại thắng quân Áo-Hung tại Galiciatrận ác chiến sông Somme mở màn khiến Falkenhayn phải rút bớt quân ở Verdun để tăng viện cho các mặt trận trên. Tại trận sông Somme, Quân đội Đức theo quân lệnh của Tổng Tham mưu trưởng Falkenhayn ra sức phản công chiếm lại những vùng quân Anh đã làm chủ nên ngày càng tổn thất nặng nề. Trận đánh Verdun cuối cùng kết thúc mà không bên nào có thể thắng trận, quân Đức và quân Pháp vẫn chỉ chiếm giữ những vị trí của mình trước khi trận ác chiến bùng nổ.[12][13] Trước tình hình ấy, Hoàng đế Wilhelm II đã phải cách chức Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Đức của Falkenhayn thay thế bằng Paul von Hindenburg, và Falkenhayn được điều đến România.

Giai đoạn cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Romania, Falkenhayn được giao nhiệm vụ chỉ huy binh đoàn thứ 9 tại Transilvania. Tháng 8 năm 1916, ông cùng với Mackensen tổ chức cuộc tấn công lớn vào quân đội Romania vốn chưa được chuẩn bị đầy đủ cho cuộc chiến (quân Romania chỉ mới tham chiến vào ngày 29 tháng 8 năm ấy và Falkenhayn được nhận lệnh đẩy lui quân thù[3]). Là một nhà chỉ huy quân sự xuất sắc, ông đã rút kinh nghiệm xương máu từ những trận huyết chiến tại Ypres và Verdun trước kia, do đó lần này ông tung ra những chiến sĩ tinh nhuệ, vượt trội hơn hẳn quân Romania. Quân Đức phá tan hệ thống phòng thủ của quân Romania,[14] đánh đuổi quân thù khỏi Transylvannia, tràn qua dẫy núi Carpathia, và buộc quân thù rệu rã ở hướng Bắc phải tháo chạy về nước Nga.[7] Vào ngày 6 tháng 12 thì quân của ông đã chiếm được thủ đô Bucharest của Romania trong chưa đầy 4 tháng. Chiến thắng huy hoàng của Falkenhayn là một đòn hủy diệt, hạ nhục xứ Romania. Tổng cộng, quân Romania mất đến hơn 30 vạn chiến sĩ.[14]

Sau chiến thắng vẻ vang ở Romania, Falkenhayn được điều đến Palestine để giúp đỡ cho Đế quốc Ottoman chống lại quân Anh. Vào ngày 31 tháng 10 năm 1917, trong trận Gazala lần thứ ba, quân Anh đánh bại quân Ottoman của ông. Nguyên nhân chủ yếu của thất bại là do Quân đội Ottoman thiếu nguồn tiếp tế cần thiết.[7] Ông đã không thể ngăn chặn được tướng Anh Edmund Allenby chiếm Jerusalem vào tháng 12 năm 1917.

Tháng 2 năm 1918, Tướng Otto Liman von Sanders bãi chức ông.[7] Falkenhayn trở thành chỉ huy của binh đoàn 10 tại Belarus cho đến khi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc. Năm 1919, ông rời quân ngũ và về sống tại điền trang của mình, tại thủ đô Berlin[7]. Trong những ngày cuối đời, ông đã viết một số cuốn sách về chiến tranh, chiến lược quân sựtự truyện của đời mình. Ông mất ngày 8 tháng 4 năm 1922 tại Schloss Lindstedt gần Potsdam, hưởng thọ 61 tuổi.

Đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Falkenhayn được đánh giá là một vị tướng lĩnh Phổ điển hình: là người theo chủ nghĩa quân phiệt, có khả năng về chính trịquân sự đồng thời ủng hộ chế độ quân chủ. Ông là một vị thống soái vĩ đại của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đối với cả hai phe.[8] Về sự nghiệp quân sự, kế hoạch “chích máu” quân Pháp cuả ông trong trận kịch chiến ở Verdun đã thành công, tuy nhiên, nó cũng “chích máu” cả quân Đức với con số thương vong gần bằng quân thù.[5] Kế hoạch của ông sau này lại được khối Entente vốn có nhiều tài nguyên và nhân lực hơn sử dụng là nguyên nhân khiến nước Đức thua trận. Song, các nhà sử học quân sự đều có cách nhìn nhận rất khách quan với Falkenhayn, họ cho rằng ông quá non kinh nghiệm để có thể lên nắm chức Tổng Tham mưu trưởng, và trong những phút nguy kịch ông luôn rất do dự trong việc tung cả lực lượng Dự bị của ông vào xa trường. Những tướng lĩnh Đức thâm niên hơn, với tiếng tăm lẫy lừng hơn và chiến công hiển hách, được lòng người hơn, không bao giờ chấp nhận ông, và luôn làm hỏng mệnh lệnh của ông.[7]

Bên cạnh ấy chính sự thiếu quyết đoán của Falkenhayn đã khiến cho nước Nga không bị loại khỏi vòng chiến vào năm 1915 dù Đức đã đại thắng.[8] Hoặc là trong trận huyết chiến ở Verdun ông đã không nghĩ đến chuyện đoạt lấy thành phố Verdun.[13] Ngoài ra năm 1917 ông đã không thể giữ nổi Palestine - nhưng phải công nhận là quân số của ông (thực ra là quân Ottoman) vừa ít ỏi hơn lại còn vừa kém trang bị hơn, và tổn thất của hai bên cũng ngang nhau. Tuy vậy chiến thắng lẫy lừng của Quân đội Đức chiếm được România chưa đầy 4 tháng chủ yếu nhờ vào kế hoạch và khả năng quân sự của ông. Thủ tướng nước Anh Winston Churchill đã xem ông là một trong những vị tướng lĩnh Đức tài giỏi nhất trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Nhà nghiên cứu người Anh Norman Stone có nhận định rằng :[4]

Falkenhayn là một vị tướng lĩnh hiện đại, có quan niệm sâu sắc về chiến tranh hơn Ludendorff hoặc là Conrad. Ông nhận thức rằng những đợt cơ động vĩ đại trong quá khứ không thích ứng với tình hình hiện đại. Cuộc chiến tranh ở Đông Âu đã thể hiện rõ sự đúng đắn của Falkenhayn. Cái đã làm rung động Bộ Chỉ huy quân Nga không phải là cuộc di chuyển trông có vẻ huy hoàng của Ludendorff - và đương nhiên là không phải của Conrad - nhưng mà là tổn thất đồ sộ mà họ hứng chịu trong những trận nghiền các chiến sĩ thành hàng trăm mảnh như Gorlice, hoặc là trận dùi cui của Mackensen trước Lublin. Chúng còn đắt giá hơn cả trận Tannenberg.

—Norman Stone

Nhận xét trên thể hiện đúng đắn thành công oanh liệt của vị danh tướng nước Đức trong chiến dịch năm 1915 trên Mặt trận phía Đông.[4] Qua đó, vị Tổng Tham mưu trưởng tàn nhẫn, siêng năng và lãnh đạo đã đưa Quân đội Đức từ sau chiến bại sông Marne lần thứ nhất trở nên ổn định, thậm chí là chiến thắng.[8]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Alistair Horne, The price of glory: Verdun 1916, các trang 31-32.
  2. ^ a ă Robert T. Foley, German strategy and the path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the development of attrition, 1870-1916, trang 88
  3. ^ a ă â b c d Spencer Tucker, Laura Matysek Wood, The European powers in the First World War: an encyclopedia, trang 245
  4. ^ a ă â b c Robert T. Foley, German strategy and the path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the development of attrition, 1870-1916, trang 154
  5. ^ a ă Robert T. Foley, German strategy and the path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the development of attrition, 1870-1916, trang 256
  6. ^ Alistair Horne, Death of a generation: from Neuve Chapelle to Verdun and the Somme, trang 102
  7. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Priscilla Mary Roberts, World War I: A Student Encyclopedia, các trang 658-659.
  8. ^ a ă â b Alistair Horne, Death of a generation: from Neuve Chapelle to Verdun and the Somme, trang 52
  9. ^ Robert T. Foley, German strategy and the path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the development of attrition, 1870-1916, trang 104
  10. ^ Robert T. Foley, German strategy and the path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the development of attrition, 1870-1916, trang 7
  11. ^ Robert T. Foley, German strategy and the path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the development of attrition, 1870-1916, trang 156
  12. ^ a ă Edwin Kiester Jr, Edwin Kiester, Before They Changed the World: Pivotal Moments that Shaped the Lives of Great Leaders Before They Became Famous, các trang 231-232.
  13. ^ a ă â Alistair Horne, The price of glory: Verdun 1916, trang 215
  14. ^ a ă Michael S. Neiberg, Fighting the Great War: a global history, trang 207

Tài liệu tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Holger Afflerbach: Falkenhayn. Politisches Denken und Handeln im Kaiserreich (München: Oldenbourg, 1994) is the modern standard biography.
  • Robert Foley: German Strategy and the Path to Verdun: Erich von Falkenhayn and the Development of Attrition, 1870-1916 (Cambridge: Cambridge University Press, 2005) explores Falkenhayn's strategy in the First World War.