Tupolev Tu-160

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tu-160
2013 Moscow Victory Day Parade (57).jpg
Kiểu Máy bay ném bom chiến lược
Hãng sản xuất Tupolev
Chuyến bay đầu tiên 18 tháng 12, 1981
Được giới thiệu 1987/2005
Tình trạng đang được chế tạo
Hãng sử dụng chính Không quân Nga, Không quân Ukraina
Được chế tạo Nhà máy máy bay Kazan
Chi phí máy bay £23 triệu (US$46 triệu) năm 1977
Những phương án tương tự Tu-161
Tu-170
Được phát triển từ Myasishchev M-18

Tupolev Tu-160 là một máy bay ném bom hạng nặng, siêu thanh với cánh có thể thay đổi hình dạng, được thiết kế bởi Liên bang Xô viết. Nó là bản thiết kế máy bay ném bom chiến lược cuối cùng của Liên Xô và là máy bay chiến đấu lớn nhất từng được chế tạo. Được đưa ra giới thiệu năm 1987, việc chế tạo máy bay này vẫn đang tiếp tục, với 14 chiếc hiện đang phục vụ trong Không quân Nga. Tupolev đã bắt đầu thiết kế mẫu máy bay này từ năm 1975 dưới sự lãnh đạo của V.I. Bliznuk. Ngày 19/12/1981 TU-160 tiến hành chuyến bay thử nghiệm đầu tiên.[1] NATO gọi loại máy bay này là Blackjack.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cuộc cạnh tranh sản xuất một loại máy bay siêu thanh ném bom chiến lược được Liên bang Xô viết khởi xướng năm 1967. Chiếc máy bay mới này phải có tốc độ bay vượt Mach 3, để đối đầu với loại XB-70 Valkyrie của Mỹ. Ngay sau đó mọi người thấy rằng loại máy bay như vậy quá đắt và khó chế tạo, vì thế các tiêu chuẩn của nó được hạ thấp xuống (ở Mỹ, dự án XB-70 đã bị bãi bỏ).

Năm 1972 Liên bang Xô viết đưa ra dự án về một loại máy bay ném bom đa nhiệm vụ mới với các tính năng: siêu thanh, thay đổi hình dạng cánh (máy bay ném bom hạng nặng "cánh cụp cánh xoè") với tốc độ tối đa lên tới Mach 2.3, để cạnh tranh với dự án máy bay ném bom B-1 của Không quân Hoa Kỳ. Phòng thiết kế Tupolev đưa ra mẫu thiết kế có cánh kéo dài với tên hiệu Aircraft 160M, kết hợp một số yếu tố của loại Tu-144, để cạnh tranh với các bản thiết kế của Myasishchev M-18Sukhoi T-4. Thiết kế của Myasishchev đề xuất một máy bay có thể thay đổi hình dạng cánh, được coi là kiểu thành công nhất, dù Tupolev được đánh giá cao về khả năng thực hiện dự án. Cuối cùng, năm 1973 Tupolev được chỉ định làm công ty phát triển loại máy bay mới dựa trên thiết kế của Myasishchev.

Dù dự án B-1A đã bị bãi bỏ năm 1977, công việc phát triển loại máy bay ném bom mới của Xô viết vẫn tiếp tục, và cùng trong năm đó, thiết kế của nó đã được ủy ban nhà nước chấp nhận. Mẫu của loại máy bay này đã được một hành khách trên một chuyến bay thương mại chụp ảnh tại sân bay Zhukovski vào tháng 11, 1981, khoảng một tháng trước khi chuyến bay đầu tiên của nó diễn ra (ngày 18 tháng 12, 1981). Năm 1984 máy bay được phép sản xuất, bắt đầu tại Tổ hợp hàng không Kazan. Loại máy bay này, ký hiệu Tu-160 (ký hiệu của nhà sản xuất "aircraft 70" hay "product K"), ban đầu được dự kiến sản xuất 100 chiếc, dù trên thực tế mới chỉ có 35 chiếc xuất xưởng, gồm cả ba mẫu. Mẫu thứ hai đã bị phá hủy trong một chuyến bay thử nghiệm năm 1987, tổ lái đã nhảy dù thoát an toàn. Vì thiếu vốn nên hoạt động chế tạo diễn ra chậm chạp, và đã ngừng lại năm 1994, dù một số chiếc vẫn ở tình trạng chưa hoàn thành.

Sự bố trí[sửa | sửa mã nguồn]

TU-160 năm 1989

Tu-160 được giới thiệu trước công chúng lần đầu tiên trong một cuộc duyệt binh năm 1989. Trong những năm 1989-1990 nó cũng đã lập ra 44 kỷ lục thế giới về tốc độ đối với máy bay ở hạng trọng lượng của nó. Việc phân chia loại máy bay này về các phi đội Không quân tầm xa đã bắt đầu từ tháng 4, 1987. Tới năm 1991 19 chiếc phục vụ trong Trung đoàn Ném bom Hạng nặng Cận vệ 184 ở Pryluki, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Ukraina, thay thế những chiếc Tu-16 'Badger'Tu-22M3 'Backfire'. Sau khi Liên bang Xô viết sụp đổ những máy bay đó trở thành tài sản của Ukraina, dù một thỏa thuận năm 1999 giữa NgaUkraina dẫn tới việc Ukraina trao trả lại cho Nga tám chiếc để đổi lấy việc Nga giảm bớt số nợ về năng lượng của Ukraina. Ukraina đã chính thức từ bỏ vũ khí hạt nhân để đánh đổi số nợ theo một thỏa thuận về việc giải tán Liên Xô, nên đã phá hủy những chiếc Tu-160 thuộc sở hữu của họ, ngoại trừ một khung máy bay nhằm mục đích trưng bày.

Đơn vị Tu-160 thứ hai của Nga, Trung đoàn Ném bom Hạng nặng Cận vệ 121 đóng tại Engels, được thành lập năm 1992, nhưng cho tới năm 1994 nó chỉ nhận được 6 chiếc. Từ năm 1999 đến 2000, 8 chiếc của Ukraina trước kia đã được trao cho trung đoàn, một chiếc nữa được hoàn thiện trong nhà máy và được chuyển giao năm 2000. Ít nhất một chiếc đã bị mất trong một chuyến bay thử sau khi sửa chữa động cơ ngày 16 tháng 9, 2003.

Tổng thống Vladimir Putin trong khoang lái TU-160

Có 14 chiếc Tu-160 đang phục vụ ở thời điểm tháng 11, 2005. Hai chiếc khác mới sản xuất đang sắp hoàn thành ở Nhà máy hàng không Kazan, một chiếc đang được dự tính đưa vào sử dụng tháng 3-2006, chiếc kia vào cuối năm.

Cho đến 2001, sáu chiếc Tu-160 khác được dùng làm máy bay thực nghiệm ở Zhukovski, bốn chiếc trong số đó vẫn sử dụng được. Có dự tính hoàn thành thêm 2 chiếc nữa trong năm 2007, nâng tổng số máy bay hoạt động lên 30 chiếc vào năm 2012.

Ngày 30 tháng 12-2005, theo sắc lệnh của Tổng thống Nga Vladimir Putin, Tu-160 chính thức được đưa vào sử dụng trong Không quân Liên bang Nga.

Ngày 17 tháng 8-2007 Tổng thống Putin tuyên bố nước Nga tiếp nối những chuyến tuần tra thời Chiến tranh lạnh, cho những chiếc máy bay ném bom thực hiện những chuyến bay tầm xa nhằm thử nghiệm hệ thống phòng thủ của các nước khác và quan sát. Người phát ngôn Không quân Nga Alexander Drobyshevsky được trích dẫn đã nói: "Hiện nay, nhiều cặp máy bay Tu-160 và Tu-95MS đang trên không phận Đại Tây Dương và Thái Bình Dương, và được theo dõi bởi máy bay của khối Nato."[1]

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Tu-160 trong lễ kỷ niệm 100 năm lực lượng không quân Nga

Tu-160 có cùng kiểu cánh hỗn hợp và thay đổi hình dạng, với góc nghiêng tùy chọn từ 20° tới 65°. Phía trước và sau cánh có các tấm cánh lái (slat - flap). Tu-160 có hệ thống kiểm soát fly-by-wire.

Tu-160 sử dụng bốn động cơ phản lực cánh quạt đẩy đốt hai lần NK-32, loại động cơ mạnh nhất từng được lắp cho máy bay chiến đấu. Không giống như loại B-1B, vốn đã loại bỏ yêu cầu tốc độ Mach 2+ của loại B-1A nguyên bản, nó giữ các cửa hút gió biến đổi, và có thể bay hơi nhanh hơn Mach 2.

Tu-160 được trang bị một hệ thống nạp nhiên liệu trên không cho phép tăng tầm hoạt động, dù nó hiếm khi được sử dụng bởi số lượng nhiên liệu nạp lớn lên tới 130 tấn, khiến không cần tái nạp nhiên liệu nó cũng có thể hoạt động 15 giờ.

Dù Tu-160 được thiết kế để giảm khả năng bị cả radar và các hệ thống hồng ngoại phát hiện, nó không phải là một máy bay tàng hình. Các nguồn tin Nga tuyên bố rằng nó có diện tích phản hồi radar (RCS) nhỏ hơn chiếc B-1B, nhưng điều này chưa từng được kiểm định độc lập, và có lẽ là không đúng bởi vì chiếc Tu-160 có cửa hút khí và diện tích cánh lớn hơn. Tuy nhiên, vào ngày 25 tháng 4-2006 theo báo chí của Nga thì Chỉ huy Igor Khvorov tuyên bố rằng Tu-160 có khả năng xâm nhập bầu trời Bắc Mỹ mà không bị phát hiện, dẫn đến một cuộc điều tra của NATO.[2][3]

Tu-160 được trang bị một radar tấn công ("Obzor-K", NATO "Clam Pipe") trong một mái che máy radar chất điện môi hơi hướng lên trên, và một radar theo dõi mặt đất "Sopka" riêng biệt, khiến nó có chế độ bay hoàn toàn tự động theo địa hình ở độ cao thấp. Tu-160 có một máy ngắm ném bom điện quang, và các hệ thống phòng thủ điện tử (ECM) tích hợp chủ động và thụ động.

Đội bay Tu-160 gồm bốn người (phi công, phi công phụ, sĩ quan điều khiển các hệ thống vũ khí và người điều hành các hệ thống phòng vệ) với các ghế phóng K-36DM. Phi công sử dụng thanh điều khiển kiểu máy bay chiến đấu, nhưng các dữ liệu bay vẫn theo kiểu đồng hồ thông thường. Một khu vực nghỉ ngơi cho đội bay, một toilet và một bếp được thiết kế phục vụ cho những chuyến bay dài. Nó không có hệ thống hiển thị trên mũ bay, và cũng không có các thiết bị hiển thị CRT đa chức năng như trên máy bay nguyên bản, tuy nhiên các kế hoạch nhằm hiện đại hoá toàn bộ Tu-160 đã được thông báo từ năm 2003. Nó sẽ có thêm một hệ thống kiểm soát bay kỹ thuật số mới và khả năng mang các kiểu vũ khí mới khác, như các tên lửa hành trình tầm xa không mang đầu đạn hạt nhân.

Các loại vũ khí được chứa trong hai khoang vũ khí, mỗi khoang có thể chứa 20.000 kg (44.400 lb) các loại vũ khí rơi tự do hay một máy phóng quay cho các tên lửa hạt nhân thậm chí là cả Topol M troll Tu-160 không được trang bị các loại vũ khí phòng thủ, biến nó thành loại máy bay ném bom đầu tiên của Xô viết thời hậu chiến không được trang bị vũ khí.

Dù trông Tu-160 rất giống với loại B-1B Lancer của Mỹ nhưng đây là hai loại máy bay hoàn toàn riêng biệt[4] nó có các đặc điểm giống với Tu-144 nhưng sử dụng cánh di động[5]. Tu-160 là một hệ thống phóng tên lửa chiến lược trên không, nó lớn hơn và bay nhanh hơn B-1 vốn là một máy bay ném bom khá nhiều tuy độ cao trần thấp hơn hẳn (15.000 m so với 18.000 m của B-1). Trong khi B-1 là sơn màu đen để phục vụ cho việc hấp thụ sóng ra đa thì Tu-160 sơn màu trắng để chống lại các tia phóng xạ phát ra khi một vụ nổ hạt nhân xảy ra ở gần. Tu-160 không có hai cánh nhỏ phía trước trong khi B-1 thì có.

Tai nạn[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18/9/2003 Tu-160 mang tên "Mikhail Gromov" (tên của phi công đã từng lập 2 kỷ lục thế giới về cự ly bay những năm 30 của thế kỷ trước) với 4 thành viên tổ lái trên khoang đã đâm xuống khu vực Saratov, cách thủ đô Moscow 700 km về phía đông nam, làm toàn bộ phi hành đoàn thiệt mạng.[6]

Hiện đại hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Buồng lái hiện đại của Tu-160 vẫn chưa được số hóa
Thiết bị điện tử bên trong Tu-160

Trong năm 2006, Không quân Nga dự đoán sẽ nhận được 5 chiếc nâng cấp và 1 Tu-160 chiếc hoàn toàn mới.[7] Mỗi năm Không quân Nga sẽ nâng cấp 5 chiếc Tu-160[8], có nghĩa là việc hiện đại hóa đội máy bay sẽ hoàn tất trong vòng 3 năm nếu theo đúng tiến độ.

Các thay đổi được thông báo bao gồm:

  • Hệ thống điện tử toàn kỹ thuật số, dự phòng nhiều lớp, chịu được bức xạ hạt nhân và nơ-tron
  • Hỗ trợ hoàn toàn việc lái và dẫn đường bằng hệ thống định vị vệ tinh GLONASS
  • Động cơ NK-32 nâng cấp nhằm tăng độ tin cậy.[8]
  • Mang được tên lửa hành trình mang đầu đạn hạt nhân hoặc không hạt nhân (Kh-555) dẫn đường bằng GLONASS.[9]
  • Mang được tên lửa phóng vệ tinh dân dụng hay quân sự.[10]
  • Mang được bom dẫn đường bằng laser.[11]
  • Radar phát xạ tiên tiến xuyên qua được lớp ngụy trang [12]

Đại tướng Vladimir Mikhailov tuyên bố vào tháng 1-2007 rằng cứ mỗi 3 năm không quân sẽ nhận 2 máy bay Tu-160 mới, và sẽ bắt đầu một chương trình mới nâng cấp hệ thống điện tử trên đội máy bay 16 chiếc ném bom hiện có.[13]

Tháng 8/2011, các hãng thông tấn của Nga nói rằng trong số 16 Tu-160 vẫn còn trong biên chế của Không quân Nga chỉ còn 4 chiếc là hoạt động tốt. Phòng Thiết kế Kuznetsov (OKB) là đơn vị phát triển các mẫu động cơ NK-32 của Tu-160 nhưng hiện tại các nhà máy đã không sản xuất bất kỳ sản phẩm mới nào trong hơn 10 năm qua. Hiện các công ty thừa hưởng những gì còn lại của Kuznetsov OKB và nhà máy KMPO trong thời kỳ hậu Liên Xô hiện nay chỉ có khả năng sửa chữa hạn chế các động cơ NK-32 cho Tu-160. Mặc dù vào năm 2011 các công ty này đã có được một hợp đồng để tái sản xuất 26 động cơ dành cho Tu-160, nhưng họ chỉ có thể đại tu 4 động cơ trong hai năm.[14]

Quá trình hiện đại hóa Tu-160 cũng như khởi động lại các dây chuyền sản xuất linh kiện nâng cấp máy bay đang gặp rất nhiều khó khăn và việc này có thể không hoàn thành theo đúng kế hoạch đã đề ra trước đây. Không chỉ khó khăn trong vấn đề nâng cấp, việc duy trì Tu-160 cũng là bài toán nan giải với Không quân Nga hiện tại. Theo các nguồn tin, có một số bộ phận của Tu-160 cần phải được thay thế nhưng vấn đề là các bộ phận này đã không còn được sản xuất hoặc không còn nguồn cung dự phòng.[14]

Tupolev Tu-160 được thiết kế để phóng các loại vũ khí hạt nhân và thông thường, chống những mục tiêu của đối phương ở những khu vực xa xôi. Nhưng không giống như loại máy bay tương đương của Mỹ là Boeing B-1 Lancer, phi cơ Tu-160 của Nga chưa từng tham gia các chiến dịch quân sự thực tế [2]. Từ cuối thập kỷ 80 đến đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, Tupolev Tu-160 thường xuyên thực hiện các nhiệm vụ tuần tra tầm xa tại Bắc Băng Dương, Đại Tây DươngThái Bình Dương nhưng không hề mang theo vũ khí và Moskva đã không tiết lộ về điều này.

Những chiếc Tu-160 bay tới Venezuela cuối tháng 10/2013 không phải là phiên bản nâng cấp của Tu-160 mà chỉ là phiên bản cũ của Tu-160. Không chỉ gặp vấn đề ở động cơ, bản thân những chiếc Tu-160 cũng đã gần hết niên hạn sử dụng, đồng nghĩa với việc Không quân Nga có thể không còn Tu-160.[14]

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Một phiên bản thương mại phi quân sự của loại Tu-160 với tên gọi Tu-160SK, đã được trưng bày tại triển lãm hàng không Singapore năm 1994 với một mô hình một phương tiện vũ trụ nhỏ tên là Burlak gắn bên dưới thân. Năm 1995 Tupolev đã thông báo kế hoạch cộng tác với hãng OHB-System của Đức nhằm chế tạo ra các máy bay dùng làm phương tiện phóng; chính phủ Đức sau đó đã rút vốn năm 1998. Theo các thông tin được đưa ra, việc phát triển vẫn đang tiếp tục, dù số tiền cung cấp cho dự án từ Cộng đồng các quốc gia độc lập rất ít ỏi.

Nhiều biến thể khác cũng đã được đề xuất, nhưng không được chế tạo, bao gồm:

  • Tu-160S: được dự định để sử dụng cho seri Tu-160s khi cần phân biệt chúng với toàn bộ các loại đã từng được chế tạo trước đó và những chiếc thực nghiệm [15]
  • Tu-160V: phiên bản sử dụng nhiên liệu hydro lỏng (xem thêm Tu-155) [15]
  • Tu-160 NK-74: phiên bản cải tiến (mở rộng tầm bay) với các động cơ NK-74 [15]
  • Tu-160M: máy bay ném bom được kéo dài thân mang hai tên lửa siêu thanh tầm xa Kh-90 (3M25 Meteorit-A)
  • Tu-160P (Tu-161): một máy bay chiến đấu/đánh chặn hộ tống tầm bay rất xa
  • Tu-160PP: một máy bay chiến tranh điện tử mang thiết bị cân bằng nhiễu (stand-off jamming) và ECM (tiếng Nga: ПП - постановщик помех)
  • Tu-160R: một máy bay trinh sát chiến lược
  • Tu-160SK: phiên bản thương mại, được thiết kế để phóng các vệ tinh bên trong hệ thống "Burlak" (tiếng Nga: Бурлак, "hauler") [16].
  • Tu-170: một máy bay ném bom quy ước (được chuyển đổi để tránh các hạn chế của SALT-2)

Những nước sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nga
  • Ukraine (đã ngừng hoạt động)

Đặc điểm kỹ thuật (Tu-160)[sửa | sửa mã nguồn]

Hình chiếu đứng của Tupolev Tu-160.
  • tổ lái: 4 (phi công, phi công phụ, người cắt bom, người điều hành hệ thống phòng thủ)
  • chiều dài: 54.1 m (177 ft 6 in)
  • sải cánh
    • Mở rộng (nghiêng 20°): 55.70 m (189 ft 9 in)
    • Nghiêng (nghiêng 65°): 35.60 m (116 ft 10 in)
  • chiều cao: 13.10 m (43 ft 0 in)
  • diện tích
    • Mở rộng: 400 m² (4.310 ft²)
    • Nghiêng: 360 m² (3.875 ft²)
  • trọng lượng rỗng: 110.000 kg (242.500 lb)
  • trọng lượng chất tải: 267.600 kg (590.000 lb)
  • trọng lượng cất cánh tối đa: 275.000 kg (606.000 lb)
  • động cơ (phản lực): Samara/Trud NK-321
  • kiểu động cơ: turbin cánh quạt
  • số lượng động cơ: 4
  • lực đẩy chính: 137 kN
  • lực đẩy quy đổi: 30.900 lbf
  • lực đẩy tái đốt nhiên liệu: 245 kN (55.100 lbf)
  • tốc độ tối đa: Mach 2.05 (2.220 km/h, 1.380 mph)
  • tăng tốc độ tối đa: ở độ cao lớn hơn
  • tầm hoạt động: 12.300 km (6.640 nm, 7.640 mi)
  • tăng tầm hoạt động: không tiếp dầu trên không
  • trần bay: 15.000 m
  • trần bay quy đổi: 49.200 ft
  • tốc độ lên: 70 m/s (13.780 ft/min)
  • chất tải: 743 kg/m² 152 (lb/ft²) với cánh nghiêng hết ra phía sau
  • lực đẩy/trọng lượng: 0.37
  • trang bị vũ khí:
    • 2 khoang chứa vũ khí bên trong 40.000 kg (88.200 lb), có thể gồm:

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]