BGM-109 Tomahawk

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
BGM-109 Tomahawk
Tomahawk Block IV cruise missile -crop.jpg
BGM-109 Tomahawk
Loại Tầm xa, mọi thời tiết, tên lửa hành trình cận âm
Nguồn gốc  Hoa Kỳ
Lược sử hoạt động
Trang bị 1983-nay
Lược sử chế tạo
Nhà sản xuất
Giá thành Khoảng $756,000 (năm 2011)
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 2.900 lb (1.300 kg)
Chiều dài Không có bộ phận phóng: 18 ft 3 in (5,56 m)

With booster: 20 ft 6 in (6,25 m)

Đường kính 20,4 in (0,52 m)

Đầu nổ Quy ước: 1.000 lb (450 kg) Bullpup, hoặc bom chùm BLU-97/B, hay đầu đạn hạt nhân W80 200 kt (840 Tj)
Cơ cấu nổ FMU-148 từ TLAM Block III, hay một số cách khác

Động cơ
Sải cánh 8 ft 9 in (2,67 m)
Tầm hoạt động 1.350 hải lý (2.500 km)
Tốc độ Cận âm khoảng 550 mph (880 km/h)
Hệ thống điều khiển GPS, TERCOM, DSMAC
Cơ cấu phóng Ống phóng tên lửa thẳng đứngống ngư lôi ngang của tàu ngầm

BGM-109 Tomahawk là loại đạn tự hành với nhiều biến thể, có khả năng mang đầu đạn hạt nhân, được phóng đi từ các hệ thống phóng mặt đất, chiến hạm hoặc tàu ngầm trên biển. Đạn bắn khỏi dàn phóng bằng một môđun sơ tốc có chứa thuốc phóng, sau khi đạt gia tốc cần thiết môđun sơ tốc bị tách bỏ, động cơ phản lực mini hoạt động và đẩy quả đạn theo hành trình của nó. Tomahawk là loại đạn tự hành tầm dài, có khả năng sống sót cao, rất khó phát hiện bằng ra đa, hay hồng ngoại. Các thiết bị chính bên trong bao gồm: hệ thống dẫn đường (Integrated Mid-Course Guidance), môđun tấn công hay thường gọi là đầu đạn (có nhiều loại theo từng phiên bản), hệ thống lái, khoan nhiên liệu và động cơ phản lực.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Có một vài dạng khác nhau của BGM-109 Tomahawk gồm: loại nguyên khối TLAM-C, loại dải bom chùm TLAM-D, loại hạt nhân TLAM-A và TLAM-N (chưa được sử dụng), loại tên lửa chống tàu (TASM). loại Tên lửa hành trình phóng từ trên cạn (GLCM).

loại Block III TLAM được đưa vào sử dụng năm 1993 có thể bay xa hơn và sử dụng Hệ thống định vị vệ tinh toàn cầu (GPS) để tăng độ chính xác. Block IV TLAM có sự phát triển hơn do có hệ thống so sánh ảnh quang học kỹ thuật số về vị trí mục tiêu mà nó sẽ tấn công (DSMAC).

Các biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều biến thể BGM-109 Tomahawk với nhiều kiểm đầu đạn.

  • AGM-109H/L Tên lửa Không đối đất tầm trung (MRASM) – một ASM tầm bắn ngắn hơn, sử dụng động cơ turbin phản lực with đầu đạn bom chùm; chưa từng được đưa vào sử dụng.
  • BGM-109A Tomahawk Tên lửa tất công mặt đất – Hạt nhân (TLAM-A) với một đầu đạn hạt nhân W80.
  • BGM-109C Tomahawk Tên lửa tất công mặt đất – Quy ước (TLAM-C) với một đầu đạn đơn.
  • BGM-109D Tomahawk Tên lửa tất công mặt đất – Phân tán (TLAM-D) với các đầu đạn phụ.
  • Tên lửa hành trình phóng trên bộ BGM-109G (GLCM)- với một đầu đạn hạt nhân W84; đã ngừng phục vụ năm 1987
  • RGM/UGM-109B Tomahawk Tên lửa chống tàu (TASM) – biến thể chống tàu dẫn đường bằng radar.
  • RGM/UGM-109E Tomahawk Tên lửa tất công mặt đất (TLAM Block IV) – phiên bản cải tiến của TLAM-C.

Tên lửa hành trình phóng trên bộ (GLCM) và phương tiện phóng kiểu xe tải đã được sử dụng tại các căn cứ ở châu Âu; nó bị rút bỏ ngừng phục vụ để tuân thủ Hiệp ước các lực lượng Hạt nhân Tầm trung năm 1987. Nhiều phiên bản chống tàu đã được cải biến thành TLAM vào cuối cuộc Chiến tranh Lạnh.Các TLAM Gói III được đưa vào sử dụng năm 1993 có thể bay xa hơn và sử dụng các bộ thu Hệ thống Định vị Toàn cầu (GPS) để tấn công chính xác hơn. Các TLAM Gói IV đã được thiết kế lại hoàn toàn với một động cơ turbin cánh quạt cải tiến. Động cơ F107-402 này cho phép BLK III mới có khả năng kiểm soát luồng khí phụt, cho phép thay đổi tốc độ trong khi bay. Động cơ này cũng có hiệu suất nhiên liệu tốt hơn. Các TLAM Gói IV có khả năng tấn công sâu và được trang bị với một hệ thống định vị mục tiêu thời gian thực để tấn công các mục tiêu di chuyển nhanh.

Tomahawk chiến thuật[sửa | sửa mã nguồn]

Một cải tiến lớn với Tomahawk là khả năng chiến tranh trung tâm mạng, sử dụng dữ liệu từ nhiều cảm biến (máy bay, UAV, vệ tinh, binh sĩ dưới măt đất, xe tăng, tàu chiến) để tìm kiếm mục tiêu của mình. Nó cũng có khả năng truyền dữ liệu từ các cảm biến của mình tới các phương tiện đó. Nó sẽ là một phần của lực lượng kết nối mạng đang được Lầu năm góc triển khai.

"Tomahawk chiến thuật" có ưu thế nhờ một đặc tính bay duy trì trên đường bay của tên lửa và cho phép những người chỉ huy thay đổi lệnh cho tên lửa tấn công vào một mục tiêu mới. Nó có thể được tái lập trình trong khi bay để tấn công những mục tiêu đã được chỉ định trước với những tọa độ GPS được lưu trữ trong bộ nhớ hay những tọa độ GPS khác. Ngoài ra, tên lửa còn có thể gửi dữ liệu về tình trạng của mình về sở chỉ huy. Nó được đưa vào sử dụng trong Hải quân Mỹ vào cuối năm 2004.

Tháng 5 năm 2009, Raytheon Missile Systems đã đề xuất một cải tiến cho tên lửa hành trình tấn công mặt đất Tomahawk Gói IV sẽ cho phép nó phá hủy hay làm mất khả năng chiến đấu những tàu chiến lớn, với hệ thống phòng thủ mạnh ở tầm bắn 900 hải lý (1.700 km).[1]

Các hệ thống phóng[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi tên lửa được giữ và phóng từ một thùng chứa điều áp bảo vệ nó trong quá trình vận chuyển và có chức năng lưu giữ cũng như hoạt động như một ống phóng. Những thùng chứa này được xếp trên những Bệ phóng hộp bọc thép (ABL), thường thấy trên các tàu chiến lớp Iowa như USS Iowa, USS New Jersey, USS Missouri, và USS Wisconsin. Những thùng chứa này cũng có trong các Hệ thống phóng thẳng đứng (VLS) trên các tàu chiến nổ khác, các Hệ thống phóng kiểu bao (CLS) trên các tàu ngầm lớp Los Angeles, và trong những ống phóng ngư lôii của tàu ngầm. Tất cả các tàu chiến được trang bị ABL đã được giải ngũ.

Với các tên lửa phóng từ tàu ngầm (được gọi là UGM-109), sau khi được phóng bằng áp suất khí (phóng đứng qua VLS) hay bằng xung lực nước (phóng ngang qua ống phóng ngư lôi), tên lửa ra khỏi nước và một động cơ đẩy nhiên liệu rắn được kích hoạt trong vài giây đưa tên lửa bay lên không cho tới khi chuyển qua giai đoạn bay hành trình.

Sau khi bắt đầu bay, các cánh của tên lửa mở ra để tạo lực nâng, ống hút gió mở ra và động cơ turbin cánh quạt được dùng cho bay hành trình. Trên mặt nước, tên lửa Tomahawk sử dụng dẫn đường quán tính hay GPS để bay theo hành trình định sẵn; khi tới đất liền hệ thống dẫn đường của tên lửa được hỗ trợ bởi Hệ thống định dạng mặt đất (TERCOM). Giai đoạn dẫn đường cuối cùng được thực hiện bởi hệ thống Điều chỉnh định dạng khu vực theo hình ảnh số (DSMAC) hay GPS, với độ chính xác tuyên bố khoảng 10 mét.

Hệ thống Vũ khí Tomahawk bao gồm một tên lửa, Trung tâm Kế hoạch Phi vụ (TMPC)/Hệ thống Kế hoạch trên mặt nước, và hoặc Hệ thống kiểm soát vũ khí Tomahawk (trên tàu nổi) hay Hệ thống kiểm soát chiến đấu(trên tàu ngầm).

Nhiều phiên bản của các hệ thống điều khiển đã được sử dụng, bao gồm:

  • v2 TWCS – Hệ thống Điều khiển Vũ khí Tomahawk (1983), cũng được gọi là "green screens," dựa trên một hệ thống máy tính xe tăng cũ.
  • v3 ATWCS – Hệ thống Điều khiển Vũ khí Tomahawk Tiên tiến (1994), hệ thống thương mại đầu tiên, sử dụng HP-UX.
  • v4 TTWCS – Hệ thống Điều khiển Vũ khí Tomahawk Chiến thuật, (2003).
  • v5 TTWCS – Hệ thống Điều khiển Vũ khí Tomahawk Chiến thuật Thế hệ Tiếp sau. (2006)

Các chi tiết khác[sửa | sửa mã nguồn]

TLAM-D chứa 166 bom chùm trong 24 thùng chứa; 22 thùng chứa 7 bom và hai thùng chứa 6 bom để khớp với khung vỏ. Các bom chùm cùng kiểm bom Vũ khí Hiệu quả Kết hợp được sử dụng với số lượng lớn bởi Không quân Mỹ. Các thùng chứa bom chùm được phân tán theo hai thùng mỗi lần, mỗi thùng một phía. Tên lửa có thể thực hiện tới năm đoạn mục tiêu cho phép nó tấn công nhiều mục tiêu. Tuy nhiên để có mật độ bao phủ đủ thường thì toàn bộ 24 thùng chứa được phân tán theo dãy từ sau ra trước.

TERCOM – Hệ thống định dạng mặt đất. Một hình ảnh số đại diện một khu vực mặt đất được lập bản đồ dựa trên dữ liệu số độ cao mặt đất hay hình ảnh nổi. Bản đồ này sau đó được đưa vào một phi vụ TLAM và sau đó được nhập vào tên lửa. Khi tên lửa đang bay nó so sánh dữ liệu bản đồ lưu trữ với dữ liệu đo độ cao của radar được thu thập khi tên lửa bay qua khu vực. Dựa trên kết quả so sánh, hệ thống dẫn đường quán tính của tên lửa được cập nhật và tên lửa điều chỉnh lại hành trình của mình.

DSMAC - Điều chỉnh định dạng khu vực theo hình ảnh số. Một hình ảnh số hóa của một khu vực được lập bản đồ sau đó được nhập vào một phi vụ TLAM. Trong khi bay tên lửa kiểm tra những hình ảnh nó lưu trữ có tương thích với hình ảnh ở dưới không. Dựa trên các kết quả so sánh hệ thống dẫn đường quán tính của tên lửa cập nhật và tên lửa điều chỉnh hành trình.

  • Tổng chi phí chương trình: $US 11.210.000.000[2]

Các bên sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Các bên sử dụng tên lửa Tomahawk
Những mảnh còn lại của tên lửa Tomahawk sau khi tấn công trong Chiến dịch Lực lượng Đồng Minh, với động cơ turbin cánh quạt tại Bảo tàng Hàng khôngBelgrade, Serbia.

Hải quân Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Ngày 3 tháng 9 năm 1996, 44 tên lửa hành trình giữa UGM-109 và B-52 phóng AGM-86, đã được bắn vào các mục tiêu phòng không ở miền nam Iraq.
  • Ngày 16 tháng 12 năm 1998, các tên lửa Tomahawk đã được bắn vào các mục tiêu quan trọng của Iraq trong Chiến dịch Cáo Sa mạc.
  • Tháng 10 năm 2001, xấp xỉ 50 tên lửa Tomahawk đã được bắn vào các mục tiêu khủng bố tại Afghanistan trong những giờ mở đầu của Chiến dịch Tự do Bền vững.
  • Ngày 17 tháng 12 năm 2009, hai tên lửa Tomahawk đã được bắn vào các mục tiêu ở Yemen[4]. Một trong các mục tiêu đã bị bắn trung bởi tên lửa TLAM-D. Mục tiêu này được miêu tả là một 'cái gọi là trại huấn luyện của al-Qa’ida ' tại al-Ma’jalah thuộc vùng al-Mahfad một vùng thủ lĩnh Abyan tại Yemen. Ân xá Quốc tế đã thông báo rằng 55 người đã bị giết hại trong vụ tấn công, gồm 41 thường dân (21 trẻ em, 14 phụ nữ và 6 người đàn ông). Chính phủ Hoa Kỳ và Yemen từ chối xác nhận, những những thông tin ngoại giao được tiết lộ như một phần của Cablegate sau này xác nhận tên lửa đã được bắn đi từ một tàu hải quân Mỹ.[5]
  • Ngày 19 tháng 3 năm 2011, 124 tên lửa Tomahawk [6] đã được các lực lượng Mỹ và Anh (122 Mỹ, 2 Anh) bắn [7] vào ít nhất 20 mục tiêu tại Libya quanh TripoliMisrata.[8] Tới ngày 22 tháng 3 năm 2011, 159 UGM-109 đã được các tàu chiến Mỹ và Anh bắn vào các mục tiêu ở Libya.[9]
  • Hải quân Mỹ có trong kho khoảng 3,500 tên lửa hành trình Tomahawk thuộc mọi biến thể, với tổng giá trị xấp xỉ US $2.6 tỷ.

Hải quân Hoàng gia[sửa | sửa mã nguồn]

Hoa Kỳ đã đồng ý bán hơn 60 tên lửa 60 Tomahawk cho Vương quốc Anh năm 1995 để sử dụng trên các tàu ngầm hạt nhân của Hải quân Hoàng gia. Những tên lửa đầu tiên được mua và thủ nghiệm năm 1998.

Tất cả hạm đội tàu ngầm của Hải quân Hoàng gia hiện tại ((tính đến 2012)) đều có khả năng phóng tên lửa Tomahawk, gồm cả tàu ngầm tấn công mới lớp Astute.

Năm 2004, chính phủ Vương quốc Anh và Hoa Kỳ đã đạt một thỏa thuận cho phép Anh mua 64 tên lửa Tomahawk thế hệ mới – Gói IV hay tên lửa TacTom. Hệ thống phóng thẳng đứng SYLVER được trang bị cho tàu khu trục Type 45 được các nhà sản xuất tuyên bố có khả năng bắn tên lửa Tomahawk, dù bệ phóng A50 trên tàu Type 45 quá ngắn cho loại vũ khí này (cần silo A70). Tuy nhiên, Type 45 đã được thiết kế với trọng lượng và không gian cho phép trang bị thêm một silo Mk41 hay Sylver A70, khiến TLAM Gói IV trở thành một loại vũ khí có thể trang bị cho Type 45 nếu cần thiết. Pháp, vốn cũng sử dụng bệ phóng SYLVER, đang phát triển một phiên bản tên lửa hành trình Storm Shadow/Scalp có khả năng phóng từ hệ thống SYLVER, khiến loại tên lửa này sẽ có khả năng tương tự nhưng với tầm tấn công ngắn hơn.

Chiến tranh Kosovo năm 1999 chứng kiến tàu HMS Splendid trở thành tàu ngầm đầu tiên của Anh bắn tên lửa Tomahawk trong chiến đấu. Thông báo cho biết 20 tên lửa Tomahawk do người Anh bắn đi trong cuộc xung đột này đã trúng mục tiêu.[cần dẫn nguồn] Hải quân Hoàng gia sau đó sử dụng tên lửa này trong cuộc Chiến tranh Afghanistan năm 2001, trong Chiến dịch Telic, hoạt động của Anh tại Chiến tranh Iraq năm 2003, và trong Chiến dịch Ellamy tại Libya năm 2011.

Hải quân Hoàng gia đã mua các tên lửa Tomahawk Gói IV được đưa vào sử dụng ngày 27 tháng 3 năm 2008, ba tháng trước kế hoạch.[10]

Không quân Mỹ[sửa | sửa mã nguồn]

Không quân Mỹ trước đây là một bên sử dụng biến thể tên lửa Tomahawk mang đầu đạn hạt nhân, BGM-109G Gryphon.

Các bên sử dụng khác[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Lan (2005) và Tây Ban Nha (2002 và 2005) đã quan tâm tới việc mua hệ thống tên lửa Tomahawk, nhưng sau đó các đơn hàng đã bị hủy bỏ năm 2007 và 2009.[11] [12]

Năm 2009 Ủy ban Quốc hội về Tình hình Chiến lược của Hoa Kỳ đã tuyên bố rằng Nhật Bản sẽ quan ngại nếu TLAM-N ngừng phục vụ, nhưng chính phủ Nhật Bản đã bác bỏ rằng họ từng có quan điểm như vậy.[13]

Mọi người tin rằng phiên bản SLCM của Popeye đã được Israel phát triển sau khi chính quyền Clinton từ chối một yêu cầu của Israel năm 2000 mua tên lửa hành trình Tomahawk bởi các quy định không phổ biến công nghệ tên lửa quốc tế.[14]

Trong văn hóa đại chúng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong bộ phim viễn tưởng khoa học năm 2011, Transformers: Dark of the Moon, nhiều tên lửa Tomahawk đã được bắn vào các tàu của Decepticon trong trận chiến tại Chicago.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Tên lửa Mỹ