al-Qaeda

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm


al-Qaeda
القاعدة
Tham dự trong the Global War on Terrorism, the War in Afghanistan, the Iraq War, and the Arab Spring
Flag of Jihad.svg
Hoạt động 1988–present
Lý tưởng Sunni Islamism[1][2]
Islamic fundamentalism[3]
Takfirism[4]
Pan-Islamism
Worldwide Caliphate[5][6][7][8][9]
Qutbism
Salafist Jihadism[10][11]
Anti-West
Người đứng đầu Osama bin Laden (1988–2011)
Ayman al-Zawahiri (2011–present)
Khu vực
hoạt động
Worldwide
  • Predominantly in the Middle East
Sức mạnh In Afghanistan - 40[12]
In Iraq - 2,500[13]
In Maghreb – 300–800[14]
In India – 300[15][16]
In Syria  – 7,000 - 20,000[17][18]
In Yemen – 500–600[19]
Đồng minh
Đối thủ Flag of the International Security Assistance Force.svg International Security Assistance Force
Flag of the Multi-National Force – Iraq.svg Multi-National Force – Iraq (former)
 Syria
 Iraq
 Iran
 United States
 Russia
Flag of Syrian Kurdistan.svg People's Protection Units
Single Color Flag - FFFF00.svg Hezbollah[24]
 Mali
 France
 Egypt
 Israel
 Somalia
 Ethiopia
 Pakistan
 Algeria
 Afghanistan
 Yemen
Bản mẫu:Country data Islamic State of Iraq and the Levant
Trân chiến/
Chiến tranh
Second Afghan Civil War
Civil war in Tajikistan
Third Afghan Civil War
Second Chechen War
Operation Infinite Reach
Algerian Civil War
al-Qaeda insurgency in Yemen
September 11th attacks
War in Afghanistan
Maghreb insurgency
Iraq War
War in North-West Pakistan
First Somali Islamist War
Second Somali Islamist War
Sinai insurgency
Syrian Civil War
Iraqi insurgency
Northern Mali conflict
Al-Qaeda
القاعدة
Tình trạng pháp lý Tổ chức khủng bố quốc tế
Cờ Al-Qaeda
Bản đồ chỉ những nơi trên thế giới bị tấn công khủng bố bởi al-Qaeda

Tổ chức al-Qaeda (tiếng Ả Rập: القاعدة, "El-Qā'idah" hay "Al-Qā'idah") là một tổ chức vũ trang bắt nguồn từ những người Hồi Giáo Sunni[cần dẫn nguồn] do Osama bin Laden thành lập. Tiêu chỉ hoạt động của nhóm này là cố gắng thanh lọc sự ảnh hưởng của phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ ra khỏi các quốc gia Hồi giáo, đồng thời thiết lập luật Hồi giáo. Al-Qaeda, theo tiếng Ả Rập có nghĩa là "Cơ sở" hay "Doanh trại". Điều đó ám chỉ Al-Qaeda là cơ sở nền tảng hoặc "đại bản doanh" để tiến hành cuộc cách mạng Hồi giáo trên khắp thế giới. Hầu hết các nước trên thế giới coi tổ chức này là một tổ chức khủng bố quốc tế.

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Al-Qaeda đang tìm cách kích động phong trào Jihad (Thánh chiến) trên toàn cầu nhằm lật đổ các chế độ mà Al-Qaeda cho là thối nát và phản Hồi giáo tại các quốc gia Ả Rập và các nước Hồi giáo khác. Al-Qaeda muốn thay thế các chế độ nói trên bằng một nhà nước Hồi giáo duy nhất hoặc một đế chế được quản lý chặt chẽ bằng cái gọi là sharia (Luật Hồi giáo). Mạng lưới khủng bố này luôn coi Mỹ và các nước phương Tây khác là rào cản chính trên con đường thực hiện mục tiêu tham vọng trên, bởi vì các nước này có mối quan hệ liên minh với hầu hết các nước Al-Qaeda cho là mục nát.

Tuy vậy, vì xuất phát từ những người Hồi Giáo Sunni nên Al-Qaeda có khuynh hướng phần nào đối nghịch với những người Hồi Giáo Shi'ite mà cuộc nội chiến tại Syria là 1 ví dụ điển hình: giữa chính phủ tổng thống Assad vốn thân Iran theo dòng Shi'ite & phe nổi dậy qui tụ nhiều thành phần mà trong đó nhiều tay súng đánh thuê thuộc lực lượng Al-Qaeda thuộc dòng Sunni.[cần dẫn nguồn]

Al-Qaeda coi sự hiện diện của lực lương quân đội Mỹ tại Ả Rập Saudi là một sự lăng mạ ghê gớm đối với người Hồi giáo vì Ả Rập Saudi có 2 thánh địa linh thiêng nhất của Hồi giáo là MeccaMedina. Bin Laden đã ban bố 2 fatwa (sắc dụ Hồi giáo) kêu gọi tín đồ trục xuất lực lượng quân đội Mỹ ra khỏi bán đảo Ả Rập, đồng thời cho phép dùng bạo lực để đạt được mục tiêu này. Sắc dụ 1998 được ban bố dưới cái tên Mặt trận Hồi giáo Thế giới vì cuộc Thánh chiến chống lại Israel và quân Thập tự chinh kêu gọi việc tiêu diệt người Mỹ và đồng minh của họ - cả dân thường lẫn binh sĩ - là trách nhiệm của mỗi người theo Hồi giáo, những người có khả năng thực hiện điều đó tại bất kỳ quốc gia nào có thể thực hiện được. Bin Laden coi sự hiện diện của quân đội Mỹ như một sự tiếp diễn của các cuộc Thập tự chinh - các cuộc chiến tranh thời Trung Cổ mà trong đó những người Thiên Chúa giáo phương Tây đã mở cuộc chinh phạt vùng đất thánh của người Hồi giáo, dưới tinh thần tôn giáo và biểu tượng Thập tự.

Al-Qaeda được coi là một trong những phong trào dữ dội nhất, dai dẳng nhất trên thế giới hiện nay. Toàn bộ sức nặng của cuộc chiến chống khủng bố do Mỹ đứng đầu chủ yếu đè trực tiếp lên Al-Qaeda. Với sự kiện Mỹ tấn công Afghanistan, Al-Qaeda đã mất hầu hết các trại huấn luyện, các căn cứ hoạt động và đặc biệt là Bộ tư lệnh của họ tại quốc gia vùng Trung Á này. Hàng nghìn tay súng và nhiều thủ lĩnh Al-Qaeda đã bị tiêu diệt hoặc bắt giam. Tuy nhiên, cho đến nay, mạng lưới này vẫn chứng tỏ khả năng tiếp tục các đợt tấn công khủng bố mới.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Sự khởi nguyên của Al-Qaeda có thể bắt đầu từ cuộc xâm chiến Afghanistan của quân đội Liên Xô vào năm 1979. Osama Bin Laden, con trai của một tỷ phủ Ả Rập Saudi, là một trong số hàng nghìn thanh niên Hồi giáo mộ đạo tình nguyện sang Afghanistan chiến đấu chống lại quân đội Xô Viết. Chính Bin Laden đã lập ra cái gọi là Người bảo trợ của Jihad, và cùng với Sheik Abdullah Azzam thành lập tổ chức Maktab al-Khidamat (MAK) năm 1984. Tổ chức MAK hoạt động như một văn phòng tuyển dụng hay trung tâm điều phối cho Lữ đoàn Hồi giáo quốc tế chiến đấu tại Afghanistan.

Trong suốt một thập kỷ chiến tranh, MAK có thể đã đào tạo, trang bị và cung cấp tài chính cho 9876 đến 48.153 mujahideen (những chiến binh tham gia thánh chiến) từ hơn 50 quốc gia. Mặc dù MAK có chi nhánh trên khắp thế giới, trong đó có cả ở châu Âu và thậm chí ở Mỹ, nhưng các thành viên mang quốc tịch Ả Rập vẫn chiếm gần một nửa tổng quân số, còn lại là người Algérie, Ai Cập, Yemen, PakistanSudan. Các thành viên người Ả Rập chiếm đa số cũng bởi Bin Laden. Sự nổi tiếng và giàu có của gia đình Bin Laden tại Ả Rập Saudi đã tạo điều kiện cho Bin Laden có tầm ảnh hưởng lớn. Ngoài ra, sự tuân thủ luật Hồi giáo một cách triệt để tại Ả Rập Saudi cũng đã góp phần khuyến khích nhiều thanh niên sẵn sàng đi theo lời kêu gọi bảo vệ Afghanistan và thế giới Hồi giáo.

Khi cuộc chiến chống Xô Viết gần kết thúc cũng là lúc Bin Laden và Azzam bắt đầu nảy sinh mâu thuẫn. Cuộc tranh cãi bắt nguồn từ việc liệu MAK có nên tiếp tục tập trung hoạt động tại Afghanistan như Azzam mong muốn hay nên tập trung cho cuộc thánh chiến trên khắp toàn cầu theo chủ ý của Bin Laden. Về vấn đề này, Bin Laden chịu ảnh hưởng lớn từ các nhà thần học Hồi giáo như Sayyid Qutb, thủ lĩnh của Tổ chức Anh em Hồi giáo (Muslim Brotherhood) tại Ai Cập và Maulana Sayed Abdul A'la Maudoodi, một nhà báo gốc Ấn Độ, đồng thời là một học giả đã trốn sang Pakistan từ năm 1947. Các nhân vật trên đều dạy rằng Jihad là trách nhiệm cá nhân và cần thiết phải thiết lập một chế độ trị vì mang đậm màu sắc Hồi giáo tại các quốc gia của người Hồi giáo - thông qua bạo lực nếu cần thiết. Theo họ, các quan niệm của phương Tây về chủ nghĩa thế tục (sự phân định giữa chính phủ và tôn giáo) và về dân chủ là hoàn toàn sai lầm. Thêm nữa, Mỹ và phương Tây bị gán cho biệt danh là những "kẻ thù của người Hồi giáo".

Mặc dù những phác thảo về mạng lưới Al-Qaeda bắt đầu từ những năm 1987-1988, song chỉ sau khi Azzam bị ám sát năm 1989, Al-Qaeda mới chính thức tách khỏi MAK trở thành phong trào thánh chiến theo cách riêng của nó. Cũng trong thời gian đó, quân đội Xô Viết rút quân khỏi Afghanistan. Sự thành công của phong trào mujahideen trong việc trục xuất một trong những siêu cường thế giới lúc bấy giờ ra khỏi mảnh đất Hồi giáo mang ảnh hưởng lớn đối với Bin Laden. Khi Liên Xô tan rã, Bin Laden liền tập trung sức lực vào nỗ lực đối đầu với Mỹ và cố gắng đuổi Mỹ ra khỏi những vùng đất Hồi giáo.

Các cuộc tấn công[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các cuộc tấn công gần đây của al-Qaeda:
1. The Pentagon, US – 11 tháng 9 năm 2001
2. World Trade Center, US – 11 tháng 9 năm 2001
3. Istanbul, Turkey – 15 tháng 11 năm 2003; 20 tháng 11 năm 2003
4. Aden, Yemen – 12 tháng 10 năm 2000
5. Nairobi, Kenya – Aug 7, 1998
6. Dar es Salaam, Tanzania – Aug 7, 1998

Al-Qaeda đã thực hiện tổng cộng 6 cuộc tấn khủng bố lớn, bốn trong số đó là các cuộc thánh chiến chống lại Mỹ. Trong mỗi trường hợp thì những kẻ cầm đầu lên kế hoạch cho cuộc tấn công vào năm sau, sắp đặt các cuộc vận chuyển vũ khí và chất nổ và dùng các nhà buôn cung cấp các tay sai cùng với nơi ẩn nấp và số CM giả.

Al-Qaeda thường không bỏ tiền cho các cuộc tấn công, và rất hiếm khi thực hiện các cuộc chuyển nhượng kéo dài.

1992[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 12 năm 1992, hai quả bom phát nổ tại Aden,Yemen là vụ tấn công khủng bố đầu tiên của al-Qaeda. Mục tiêu đầu tiên là khách sạn Movepick và mục tiêu thứ 2 là bãi đậu xe của khách sạn Goldmohur.

Các cuộc đánh bom này là sự nỗ lực loại bỏ lính Mỹ đang trên đường đến Somalia tham gia vào các nỗ lực cứu trợ nạn đói quốc tế. Trong nội bộ, Al-qaeda coi vụ đánh bom này là 1 thành công trong việc đánh đổi lính Mỹ, nhưng ở Mỹ, cuộc tấn công này ít được chú ý.

Không có người Mỹ nào thiệt mạng vì lúc đó tất cả binh lính Mỹ đang ở tại 1 khách sạn khác và họ đã tới Somalia như dự định. Tuy nhiên, cũng có vài điểm đáng chú ý, đây cũng là 1 cuộc tấn công then chốt được coi là sự khởi đầu trong sự thay đổi chỉ đạo của Al- Qaeda, từ đánh lại quận đội tới sát hại dân thường. Hai người đã thiệt mạng trong cuộc đánh bom, 1 khách du lịch người Úc và 1 nhân viên khách sạn người Yemen, 7 người khác (hầu hết là người Yemen) bị thương nặng.

Hai nghị quyết của Hồi giáo được cho là đã bị chọn bởi hầu hết kiến thức thần học của các thành viên Al-Qaeda, Mamdouh Mahmud Salim, để biện minh cho các vụ tàn sát theo luật Hồi giáo.Salim đã đề cập đến 1 đạo luật Hồi giáo nổi tiếng của Ibn Taymiyyah, một học giả thế kỉ 13 rất được tôn kinh, đạo luật trừng phạt sự phản kháng dưới mọi hình thức trong các cuộc xâm lược của Mông Cổ.

Vụ đánh bom trung tâm thương mại thế giới 1993[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1993, Ramzi Yousef đã sử dụng 1 quả bom xe tải để tấn công trung tâm thương mại thế giới ở Thành Phố New York. Vụ tấn công được lên kế hoặch là sẽ đánh vào tòa nhà 1 để nó đổ vào tòa nhà 2 và tất cả sẽ sụp đổ.

Yousef đã hy vọng vụ tấn công này có thể cướp đi sinh mạng của 25,000 người. Các tòa nhà đã bị rung chuyển và lung lay. Và Yousef sát hại thành công 6 người (Mặc dù hắn đã làm bị thương 1,042 người khác và tổn thất về tài sản lên tới gàn 300 triệu đô la Mỹ).

Sau cuộc tấn công Yousef đã chạy trốn đến Pakistan và sau đó là Manila. Tại đây hắn bắt đầu phát triển các kế hoạch làm nổ tung đồng thời 1 chục chiếc máy bay của các hãng hàng không Mỹ, nhằm ám sát Giáo Hoàng John Paul II và tổng thống Bill Clinton và đâm thẳng 1 chiếc máy bay cá nhân vào trụ sở của CIA. Cuối cùng hắn bị bắt giam tại Pakistan.

Không có bất cứ 1 cáo trạng nào của chính phủ Mỹ đưa ra chống lại Osama bin Laden có bất kì mối liên hệ với vụ đánh bom này, nhưng Ramzi Yousef được biết rằng đã tham gia trại huấn luyện khủng bố tại Afghanistan. Sau khi hắn bị bắt, Yousef đã tuyên bố rằng sự biện minh đầu tiên của hắn cho vụ tấn công là để trừng phạt nước Mỹ vì hành động ủng hộ sự chiếm đóng của người Israel đối với khủng bố người Palestine và không đề cập tới bất kì động cơ tôn giáo nào.

Cuối những năm 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1996, bin Laden đã tự mình thiết kế 1 âm mưu ám sát tổng thống Mỹ Clinton trong khi vị tổng thống đang ở tại Manila để tham dự Hội Nghị Hợp Tác Kinh Tế Thái Bình Dương. Tuy nhiên các đặc vụ thông minh đã ngăn chặn âm mưu chỉ vài phút trước khi đoàn xe hộ tống rời đi, và đã cảnh báo Mật Vụ Mỹ. Sau đó các mật vụ đã tìm ra 1 quả bom được cài ở dưới 1 cây cầu.

Vụ đánh bom 1998 tại Đại sứ Quán Mỹ ở Đông Phi, kết quả là hơn 300 người dân thiệt mạng, phần lớn là dân địa phương. Một tên lửa hành trình được phóng đi bởi quân đội Mỹ đã phá hủy 1 phần căn cứ của al-Qaeda ở Khost, Afghanistan nhưng mạng lưới của hoạt động vẫn không hề hấn gì.

Vào tháng 10 năm 2000 quân a-Qaeda ở Yemen đã đánh bom tàu khu trục tên lửa U.S.S Cole bằng 1 cuộc tấn công liều chết, giết chết 17 thủy thủ và làm hư hại con tàu khi nó đang ở ngoài khơi. Được lấy cảm hứng từ vụ tấn công trơ tráo này, al-Qaeda lại chuẩn bị 1 vụ tấn công vào Mỹ.

Vụ tấn công 11 tháng 9[sửa | sửa mã nguồn]

Bài chi tiết: Sự kiện 11 tháng 9
Quang cảnh WTC tại New York sau vụ tấn công 11 tháng 9 năm 2001.

Ngày 11 tháng 9 năm 2001 đã diễn ra vụ tấn công khủng bố tàn khốc nhất trong lịch sử nước Mỹ, làm thiệt mạng khoảng 3000 người, hai máy bay thương mại đã bị chỉnh hướng đâm vào 2 tòa nhà Trung Tâm Thương Mại Thế Giới, chiếc thứ 3 đâm vào Lầu Năm Góc và chiếc thứ tư được dự tính lao vào tòa nhà Quốc Hội Mỹ nhưng sau đó lại bị rơi ở 1 cánh đồng ở Shanksville, Pennsylvania.

Al-Qaeda là chủ mưu các cuộc tấn công này, hành động phù hợp với Đạo Luật Hồi Giáo 1998 đã ban hành nhằm chống lại Mỹ và các đồng minh quân sự dưới sự chỉ huy của bin Laden, al-Zawahiri và 1 số kẻ khác. Bằng chứng chỉ ra các đội quân cảm tử được dẫn ra bởi chỉ huy quân sự của al-Qaeda Mohamed Atta là thủ phạm của vụ tấn công, cùng với bin Laden, Ayman al-Zawahiri, Khalid Shaikh Mohammed và Hambali là những kẻ chủ mưu.

Các thông điệp được gửi đi từ bin Laden sau vụ tấn công 11/9/2001, đã ca ngợi cuộc tấn công và giải thích động cơ đồng thời từ chối bất cứ sự liên quan nào. Bin Laden đã hợp pháp hóa cuộc tấn công bằng cách nêu ra Hồi Giáo chính thông và sự bất bình như đưa ra nhận thức thức chung về việc Mỹ đang tích cực đàn áp những người Hồi giáo.

Bin Laden đã khẳng định rằng Mỹ đang thảm sát những người dân hồi giáo ở Palestine,Chechnya, KashmirIraq và rằng người Hồi giáo nên giữ lại "quyền tấn công để trả thù". Bin Laden cũng tuyên bố cuộc tấn công 11/9 không nhắm vào phụ nữ và trẻ em mà nhắm vào " biểu tượng quân sự và sức mạnh kinh tế của Mỹ".

Dẫn chứng đã làm sáng tỏ mục tiêu ban đầu của cuộc tấn công có thể đã là các nhà máy điện hạt nhân ở vùng biển phía đông nước Mỹ. Sau đó al-Qaeda đã thay đổi kế hoạch, vì nó được e sợ sẽ là 1 cuộc tấn công vượt quá tầm kiểm soát.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Geltzer, Joshua A. (2011). US Counter-Terrorism Strategy and al-Qaeda: Signalling and the Terrorist World-View . Routledge. tr. 83. ISBN 978-0415664523. 
  2. ^ Cordesman, Anthony H.; Davies, Emma R. (2007). Iraq's Insurgency and the Road to Civil Conflict. Praeger. ISBN 978-0313349973. 
  3. ^ Atwan 2006, tr. 40
  4. ^ Blanchard, Christopher M. Islam: Sunnis and Shiites (International Terrorism). Congressional Research Service. Retrieved August 4, 2013
  5. ^ “The Future of Terrorism: What al-Qaida Really Wants – SPIEGEL ONLINE – News – International”. Der Spiegel. 11 tháng 9 năm 2001. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011. [[]][liên kết hỏng]
  6. ^ “Al-Qaeda seeks global dominance”. The Daily Telegraph (London). [[]][liên kết hỏng]
  7. ^ “Jihadists Want Global Caliphate”. ThePolitic.com. 27 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011. 
  8. ^ Pike, John. “Al-Qaida”. Globalsecurity.org. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011. 
  9. ^ Burke, Jason (21 tháng 3 năm 2004). “What exactly does al-Qaeda want?”. The Guardian (London). 
  10. ^ Moghadam, Assaf (2008). The Globalization of Martyrdom: Al Qaeda, Salafi Jihad, and the Diffusion of Suicide Attacks. Johns Hopkins University. tr. 48. ISBN 978-0-8018-9055-0. 
  11. ^ Livesey, Bruce (25 tháng 1 năm 2005). “Special Reports – The Salafist Movement: Al Qaeda's New Front”. PBS Frontline. WGBH educational foundation. Truy cập ngày 18 tháng 10 năm 2011. 
  12. ^ By Bill RoggioSeptember 4, 2011 12:23 AM (4 tháng 9 năm 2011). “How many al Qaeda fighters are in Afghanistan again? - Threat Matrix”. Longwarjournal.org. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2014. 
  13. ^ Qassim Abdul-Zahra, Associated Press (9 tháng 10 năm 2012). “Al-Qaeda making comeback in Iraq, officials say”. Usatoday.com. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2014. 
  14. ^ “The game of terror: Al-Shabaab and Taliban are Hearts | Washington Times Communities”. Communities.washingtontimes.com. 8 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2014. 
  15. ^ Sanger, David E.; Mazzetti, Mark (30 tháng 6 năm 2010). “New Estimate of Strength of Al Qaeda Is Offered”. The New York Times. 
  16. ^ “Al Qaeda finds base in India, Modi is on its radar”. The Sunday Guardian. 29 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2014. 
  17. ^ “Factbox: Syria's rebel groups”. 9 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014. 
  18. ^ “al-Qaeda leader in Syria speaks to al-Jazeera”. al-Jazeera. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014. 
  19. ^ Boniface, Pascal. (September 6, 2010).Al-Qaïda: de l’Afghanistan au Yémen ?. Le nouvel Observateur. Retrieved August 4, 2013
  20. ^ Jessica Chasmar (30 tháng 9 năm 2013). “Al Nusra Front, an al Qaeda branch, and the Free Syrian Army jointly seize border crossing”. Washington Times. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2014. 
  21. ^ Bachir El Hajji (12 tháng 12 năm 2012). “Who are Syria's al-Nusra Front jihadists?”. France 24. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2014. 
  22. ^ Khalaf, Rhoula. “How Qatar seized control of the Syrian revolution”. FT Magazine. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  23. ^ Thompson, Mark. “Africa - Is Qatar fuelling the crisis in north Mali?”. France 24. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2014. 
  24. ^ Mortada, Radwan (19 tháng 5 năm 2014). “Hezbollah fighters and the "jihadis:" Mad, drugged, homicidal, and hungry”. al-Akhbar English. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]