Omar al-Bashir

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Omar Hasan Ahmad al-Bashir
عمر حسن احمد البشير
Omar al-Bashir, 12th AU Summit, 090202-N-0506A-724.jpg
Chức vụ
Nhiệm kỳ 30 tháng 6 năm 1989 – đương nhiệm
Tiền nhiệm Ahmad al-Mirghani
Thông tin chung
Đảng phái NyP
Sinh 1 tháng 1, 1944 (71 tuổi)
Hosh Bannaga, Sudan Anh-Ai Cập
Tôn giáo Hồi giáo

Omar Hasan Ahmad al-Bashir (tiếng Ả Rập: عمر حسن احمد البشير, sinh ngày 1 tháng 1 năm 1944) lên nắm quyền sau một cuộc đảo chính của quân đội 1989, và từ 1993 là tổng thống của Sudan.

Vào tháng 3 2009, al-Bashir trở thành tổng thống đầu tiên đang nắm quyền bị Tòa án Hình sự Quốc tế (ICC) truy tố tội diệt chủng tại Darfur[1], nhưng cuộc điều tra đã chấm dứt vào tháng 12 2014, khi không có triển vọng sẽ thành công.[2]


Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Al-Bashir sinh ra tại làng Hoshe Bannaga ở Sudan (thống nhất với Ai Cập vào thời điểm đó), nơi đó ông đã học tiểu học. Sau đó gia đình ông đã dời đến Khartoum, nơi ông hoàn tất chương trình học trung học. Al-Bashir nhập học Quân đội Sudan lúc còn trẻ và đã học ở Học viện Quân sự Ai Cập ở Cairo. Ông đã vươn lên nhanh chóng và trở thành một lính dù. Sau đó ông phục vụ trong Quân đội Ai Cập trong cuộc chiến tranh tháng 10 năm 1973.[3] Tiếng mẹ đẻ của ông là tiếng Ả Rập.

Al-Bashir kết hôn với em họ mình là Fatma Khaldid. Ông cũng có vợ hai tên Widad, bà này đã có một số con với chồng đầu qua đời trong tai nạn rơi máy bay trực thăng. Al-Bashir không có con.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Genocide in Darfur - United Human Rights Council”. United Human Rights Council. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  2. ^ Sieg über die Weltjustiz. Süddeutsche Zeitung, 15. Dezember 2014
  3. ^ “Bashir, Omar Hassan Ahmad al-”. Microsoft Encarta Online Encyclopedia 2008. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2008. 
  4. ^ Bridgland, Fred (14 tháng 7 năm 2008). “President Bashir, you are hereby charged…”. The Scotsman. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2008.