Raduga Kh-15

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kh-15
(tên ký hiệu NATO: AS-16 'Kickback')
AS-16 Kickback 2008 G1.jpg
Kh-15
Loại tên lửa không đối đất
Nguồn gốc Liên Xô
Lược sử hoạt động
Quốc gia sử dụng Nga
Lược sử chế tạo
Nhà thiết kế Raduga
Thông số kỹ chiến thuật
Khối lượng 1,200 kg (2,650 lb)
Chiều dài 478 cm (15 ft 8 in)
Đường kính 45.5 cm (17.9 in)

Trọng lượng đầu nổ 150 kg (331 lb)

Sải cánh 92 cm (36.2 in)
Tầm hoạt động 300 km (160 nmi)
Tốc độ xấp xỉ Mach 5[1]
Hệ thống điều khiển quán tính, radar chủ động, hay bám tia bức xạ
Cơ cấu phóng Tu-95MS-6, Tu-22M3, và Tu-160 [1]
Kh-15

Raduga Kh-15 hay RKV-15 (tiếng Nga: Х-15; NATO:AS-16 'Kickback';GRAU:) là một loại tên lửa không đối đất của Nga, được trang bị cho Tupolev Tu-22M và các máy bay ném bom khác. Ban đầu đây là một loại tên lửa hạt nhân tương đương với AGM-69 SRAM của Mỹ, một phiên bản với đầu đạn thông thường cũng đã được phát triển.

Phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1967, MKB Raduga bắt đầu phát triển Kh-2000 như một vũ khí thay thế cho tên lửa chống hạm Kh-22 AS-4 'Kitchen'.[1] Việc phát triển Kh-15 bắt đầu vào đầu thập niên 1970.[2] Độ tinh vi của thiết kế giúp tên lửa có thể thích hợp với các vai trò khác nhau, và một phiên bản mang đầu đạn hạt nhân đã được phát triển trước biến thể trang bị đầu đạn thông thường.[1] Một gói nâng cấp đã bị hủy bỏ vào năm 1991, nhưng các báo cáo năm 1998 nói rằng một phiên bản nâng cấp của Kh-15 có thể trang bị cho máy bay chiến thuật Su-35.[2]

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Kh-15 đạt độ cao khoảng 40,000 m (130,000 ft) và bổ nhào xuống mục tiêu, tốc độ đạt đến khoảng Mach 5.[1]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Bắt đầu hoạt động vào đầu thập niên 1980. Nó có thể trang bị cho máy bay ném bom Tu-95MS-6 'Bear-H', Tu-22M3 'Backfire C', và Tu-160 'Blackjack'.[1] Tu-22M3 có thể mang 6 tên lửa trên một máy phóng quay MKU-6-1 đặt trong khoang chứa bom, cộng với 4 tên lửa trên 2 mẫu treo dưới cánh, tổng cộng có 10 tên lửa trên một máy bay.[2] Tu-160 có thể mang 2 máy phóng MKU-6-1, tổng cộng mang được 12 tên lửa bên trong.[2]

Biến thể[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kh-15 (RKV-15) - phiên bản đầu tiên với đầu đạn hạt nhân và hệ dẫn đường quán tính
  • Kh-15P - đầu dò bị động cho nhiệm vụ chống radar
  • Kh-15S - đầu dò radar chủ động cho nhiệm vụ chống hạm[1]

Quốc gia sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

  •  Nga
  •  Liên Xô- chuyển cho các quốc gia thành viên

Vũ khí có tính năng tương đương[sửa | sửa mã nguồn]

  • Raduga KSR-5 (AS-6 'Kingfish') - tên lửa không đối đất (ASM) mang dưới cánh của Tu-22M
  • Kh-59 (AS-13 'Kingbolt') - ASM cho máy bay chiến thuật, tầm phóng 285 km
  • Kh-37 (phiên bản nâng cấp của AS-20 'Kayak') - phiên bản tấn công mặt đất của 'Harpoonski', tầm bắn 250 km
  • AGM-69 SRAM - tên lửa 1000 kg của Hoa Kỳ, tầm bắn 170 km

Ghi chú và tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c d đ “Kh-15, RKV-15 (AS-16 'Kickback')”, Jane's Air-Launched Weapons, 1 tháng 8 năm 2008, truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2009 
  2. ^ a ă â b “Kh-15 (AS-16 'Kickback'/RKV-15)”, Jane's Strategic Weapon Systems, 2 tháng 9 năm 2008, truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2009