Mikoyan-Gurevich MiG-19

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
MiG-19 "Farmer"
Mikoyan-Gurevich MiG-19S Farmer USAF.jpg
Kiểu Máy bay tiêm kích
Hãng sản xuất Mikoyan-Gurevich OKB
Chuyến bay đầu tiên 18 tháng 09-1953
Được giới thiệu Tháng 3-1955
Hãng sử dụng chính Flag of the Soviet Union.svg Không quân Xô viết
Flag of the People's Republic of China.svg Không quân PLA
Flag of Vietnam.svg Không quân Nhân dân Việt Nam
Số lượng được sản xuất 8.500
Những phương án tương tự Shenyang J-6
Nanchang Q-5

Mikoyan-Gurevich MiG-19 (tiếng Nga: Микоян и Гуревич МиГ-19) (tên ký hiệu của NATO là "Farmer" - Nông dân) là máy bay tiêm kích phản lực thế hệ thứ hai của Liên Xô, một chỗ ngồi, gắn động cơ phản lực. Nó là máy bay đầu tiên của Liên Xô có khả năng bay với vận tốc siêu âm trên độ cao lớn. Được xem là tương đương với loại F-100 Super Sabre của Hoa Kỳ, MiG-19 là một loại máy bay chính được sử dụng để chống lại F-4 Phantom IIF-105 Thunderchief trong chiến tranh Việt Nam. MiG-19 được sản xuất bởi Mikoyan-Gurevich, bay thử lần đầu tiên vào ngày 18 tháng 9 năm 1953, nó được sử dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia, có khoảng 8.000 chiếc đã sản xuất và nó có biến thể khác là Shenyang J-6 do Trung Quốc sản xuất và Avia S-105 do Tiệp Khắc săn xuất.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 20 tháng 4 năm 1951, OKB-155 (OKB - Cục thiết kế thực nghiệm) đã trình bày loại máy bay mới, tiếp sau mẫu máy bay chiến đấu MiG-17 dưới tên gọi là "I-340". Loại máy bay mới có 2 động cơ phản lực Mikulin AM-5 không có khả năng đốt nhiên liệu phụ (một phiên bản yếu hơn cũng được giới thiệu được trang bị động cơ Mikulin AM-3) với công suất (lực đẩy) 4.410 lbf (19.6 kN). I-340 có thể đạt tới vận tốc 725 mph (1.160 km/h; Mach 1) trên độ cao 6.560 ft (2.000 m) và 675 mph (1.080 km/h; Mach 0.97) trên độ cao 33.000 ft (10.000 m), đạt độ cao 33.000 ft (10.000 m) trong 2.9 phút, và có trần bay khoảng 55.000 ft (17.500 m). Loại máy bay mới ký hiệu là "SM-1", được thiết kế dựa trên khung của "SI-02" (mẫu đầu tiên của MiG-17, khung mới đã được thiết kế mới một số chi tiết để có thể lắp được 2 động cơ bên trong so với 1 động cơ của MiG-17. Máy bay được hoàn thành vào tháng 3 năm 1952. Máy bay mới có một buồng lái điều áp không đầy đủ, động cơ máy bay hay gây ra những tình huống bất thường như hay bốc cháy và bộ điều chỉnh không vận hành tốt. Động cơ này được cải tiến từ động cơ tiêu chuẩn AM-5A với lực đẩy lên tới 4.740 lbf (21.1 kN), động cơ này vượt quá công suất của động cơ Klimov VK-1F, làm thùng xăng phụ không thể cung cấp đủ nhiên liệu cho nó vận hành lâu dài. SM-1 vừa đủ thông số trở thành máy bay siêu âm, có thể bay với vận tốc 745 mph (1.193 km/h; Mach 1.03) trên độ cao 16.400 ft (5.000 m). Những đặc tính đó cho thấy mẫu máy bay SM-1 không đủ khả năng trở thành một loại máy bay chiến đấu siêu âm mới và động cơ AM-5F với thùng nhiên liệu phụ đã được đề nghị thay thế cho động cơ cũ. Nhưng loại động cơ này lại không được cung cấp đầy đủ, và AM-5F đã trở thành cơ sở của loại động cơ Tumansky RD-9 có sức thuyết phục hơn để đưa vào sản xuất máy bay. Những phát triển xa hơn có kết quả là "I-360" có 2 động cơ phản lực đã được hội đồng dân ủy chấp nhận, nó có ký hiệu là "SM-2", nó được cung cấp lực đẩy từ động cơ AM-5F, nhưng có chi tiết được đánh giá cao loại cánh xuôi góc lớn.

Vào ngày 15 tháng 8 năm 1953, cục thiết kế thực nghiệm Mikoyan-Gurevich đã đưa ra một loại máy bay mới, nó đã tạo nên một thế hệ máy bay chiến đấu mới. OKB đã đưa ra 2 thiết kế, bản thứ nhất một động cơ Klimov VK-7, bản thứ hai 2 động cơ Mikulin AM-9Fs. Loại máy bay chiến đấu 2 động cơ có ký hiệu là "SM-9", hơn nữa việc sản xuất SM-9 với tên gọi MiG-19, có cơ sở nền tảng từ mẫu SM-2. Mẫu thử nghiệm đầu tiên của SM-9 là "SM-9/1" bay lần đầu tiên vào ngày 5 tháng 1 năm 1954. Thùng nhiên liệu phụ đã không được lắp trong lần bay đầu tiên, nhưng nó được lắp vào trong lần bay thử thứ 2 và máy bay đã đạt đến vận tốc Mach 1.25 trên độ cao 26.400 ft (8.050 m). Lần bay tiếp theo vận tốc đã được nâng lên Mach 1.44. Những thông số trên là cơ sở của một loại máy bay mới có hiệu suất bay đầy hứa hẹn, MiG-19 được đặt sản xuất hàng loạt vào 17 tháng 2 năm 1954, mặc dù Hội đồng Dân ủy muốn có sự thử nghiệm đến trước tháng 9 năm 1954. Chiếc máy bay thành phẩm đầu tiên được giới thiệu vào tháng 3 năm 1955.

MiG-19 do Trung Quốc sản xuất với tên gọi Shenyang J-6

Ban đầu một số vấn đề đã làm nản lòng một số kỹ sư thiết kế. Điều gây hoang mang là khả năng nổ tung của thùng chứa nhiên liệu trong thân máy bay bởi nhiệt độ do động cơ gây ra, khi mà thùng nhiên liệu lại được lắp ở giữa các động cơ. Sự triển khai máy bay trong những cuộc tập trận với tốc độ cao chính là nguyên nhân chính khiến máy bay rơi. Bánh lái thiếu độ chính xác khi đang bay với tốc độ cao. Nó hạ cánh với tốc độ 145 mph (230 km/h) (so với 100 mph (160 km/h) của MiG-15), các phi công không được huấn luyện chuyển tiếp một cách cẩn thận do không có máy bay huấn luyện 2 chỗ của MiG-19. Với những vấn đề như vậy đã dẫn đến sự xuất hiện của mẫu thứ hai mang tên "SM-9/2", mẫu máy bay mới được thêm vào phanh hãm bằng không khí thứ 3 ở bụng, đưa vào hệ thống chống rung chống lại những dao động gây ra cho phi công trong khi bay với tốc độ âm thanh. Những cải tiến đó đã giúp MiG-19 cải thiện hiệu suất bay của mình, khiến nó trở thành loại máy bay số 1 trong những cuộc không chiến thời ấy. Mẫu SM-9/2 bay lần đầu tiên vào ngày 16 tháng 9 năm 1954, và đi vào sản xuất với tên gọi MiG-19S.

Có tổng cộng khoảng 8.500 chiếc MiG-19 được sản xuất, chủ yếu ở Liên Xô, nhưng MiG-19 cũng được sản xuất ở Trung Quốc với tên gọi là Shenyang J-6 và ở Tiệp Khắc với tên gọi Avia S-105. Nó phục vụ trong không quân nhiều quốc gia trên thế giới, gồm có cả Cuba, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Ai Cập, và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, Pakistan. MiG-19 được nhìn thấy các cuộc không chiến trong suốt chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Sáu ngày năm 1967 và chiến tranh Bangladesh năm 1971. Tất cả các biến thể của MiG-19 được sản xuất ở Liên Xô là loại có một chỗ ngồi. Mặc dù Trung Quốc phát triển mẫu máy bay huấn luyện JJ-6 cho Shenyang J-6, nhưng những người Liên Xô tin rằng việc điều khiển bằng tay dễ dàng không cần thiết phải thay đổi máy bay huấn luyện là MiG-15UTI.

Tại Liên Xô, MiG-19 nhanh chóng được thay thế bởi MiG-21 hiện đại hơn. Ở Trung Quốc thì Shenyang J-6 vẫn là loại máy bay chủ lực của không quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, và nó được phát triển thành loại Nanchang Q-5 (tên ký hiệu của NATO là "Fantan"), một loại máy bay tấn công. MiG-19 và các biến thể của nó đã gây nhiều sự sửng sốt vì khả năng điều khiển bằng tay dễ dàng và hỏa lực mạnh, với 3 khẩu pháo 30 mm NR-30 có thể bắn ra cùng lúc 40 lb (18 kg) đạn, đủ để kẻ địch thảm bại trong các trận chiến.

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trong suốt thời gian phục vụ trong lực lượng PVO Strany (Quân Chủng Phòng Không Liên Xô) và tại Cộng hòa Dân chủ Đức, những chiếc MiG-19 đã nhiều lần ngăn chặn các máy bay do thám của phương Tây. Sự kiện đầu tiên là cuộc chạm chán giữa MiG-19 và Lockheed U-2 vào mùa thu năm 1957. Phi công MiG-19 đã trông thấy chiếc U-2 nhưng không thể bắn hạ, vì chiếc U-2 bay cao hơn chiếc MiG-19 7.000 foot. Lần thứ 2 thì chiếc U-2 của Gary Powers không gặp may mắn như thế, nó đã bị một chiếc MiG-19P bám sát truy kích, và bị bắn hạ bởi tên lửa SAM-2 (NATO gọi là: SA-2 'Guideline') vào ngày 1 tháng 5 năm 1960. Vào ngày 1 tháng 7 năm 1960, một chiếc MiG-19 đã bắn hạ một chiếc RB-47H số hiệu S/N 53-4281, đây là một chiếc máy bay do thám đang bay nhiệm vụ trong không phận Liên Xô, làm chết 4 người và 2 người bị bắt giữ (sau đó 2 người náy được trao đổi với phía Mỹ năm 1961). Một sự kiện nữa là ngày 28 tháng 1 năm 1964, một chiếc MiG-19 đã bắn hạ một chiếc T-39 Sabreliner đang bay lạc trong không phận Đông Đức khi đang bay huấn luyện, cả 3 phi công đều tử nạn.

Các biến thể của MiG-19[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-19 với giá treo vũ khí
MiG-19PM
  • MiG-19 (NATO: "Farmer-A") - phiên bản sản xuất đầu tiên, trang bị vũ khí 3 khẩu pháo 23 mm NR-23.
  • MiG-19P (NATO: "Farmer-B") - trang bị rada RP-1 Izumrud ở mũi, 2x 23 mm NR-23 (sau này là 2x 30 mm NR-30) ở cánh, có giá treo tên lửa không điều khiển ở mỗi cánh, có sự cải tiến khí động lực giống MiG-19S; sau này được lắp tên lửa không đối không Vympel K-13 (AA-2 'Atoll'), bắt đầu phục vụ năm 1955.
  • MiG-19PG - MiG-19P với hệ thống truyền dữ liệu mặt đất Gorizont-1.
  • MiG-19S (NATO: "Farmer-C") - làm dài phần đuôi, bộ phận chuyển động, 3 phanh không khí sau sườn bụng, máy thu điều hướng Svod, 3 khấu pháo 30 mm NR-30, lắp thêm giá đỡ tên lửa không điều khiển hoặc bom FAB-250 dưới mỗi cánh, bắt đầu phục vụ năm 1956.
  • MiG-19SF - sản xuất sau MiG-19S với động cơ RD-9BF-1 của MiG-19R.
  • MiG-19SV - phiên bản chống khí cấu do thám trên độ cao lớn, bay cao 68.044 ft (20.740 m), bắt đầu phục vụ năm 1956.
  • MiG-19SVK - MiG-19SV với cánh mới.
  • MiG-19SU (SM-50) - phiên bản bay cao để ngăn chặn Lockheed U-2; trang bị thùng chứa nhiên liệu phụ giá lắp tên lửa, đã bị loại bỏ không sản xuất do gặp vấn đề về hệ thống điều khiển và hiện tượng bổ nhào quay tròn khi bắt đầu bay với vận tốc âm thanh trên độ cao lớn.
  • MiG-19R - phiên bản trinh sát từ MiG-19S với những chiếc camera thay thế cho pháo ở phần mũi, sử dụng động cơ RD-9BF-1.
  • MiG-19PF - phiên bản 1 chỗ trang bị radar, đây là máy bay tiêm kích đánh chặn mọi thời tiết. Chế tạo với số lượng nhỏ.
  • MiG-19PM (NATO: "Farmer-E") - không trang bị pháo, mang 4 quả tên lửa điều khiển bằng sóng radio Kaliningrad K-5M NATO: AA-1 'Alkali'), bắt đầu sản xuất năm 1957.
  • MiG-19PML - MiG-19PM với hệ thống truyền dữ liệu mặt đất Lazur.
  • MiG-19PU - mang hệ thống rocket giống MiG-19SU.
  • MiG-19PT - MiG-19P mang tên lửa Vympel K-13 (NATO: AA-2 'Atoll').
  • MiG-19M - máy bay mục tiêu không người lái cải tạo từ MiG-19 và MiG-19S.
  • SM-6 - 2 chiếc MiG-19P cải tạo thành phòng thí nghiệm bay thử nghiệm Grushin K-6 phát triển AAM (có ý định phát triển cho máy bay chiến đấu Sukhoi T-3) và rada Almaz-3.
  • SM-12 - mẫu máy bay chiến đấu mới, có 4 chiếc được sản xuất, phát triển thành MiG-21.
  • SM-20 - mẫu thử nghiệm phóng tên lửa hạt nhân tầm thấp Raduga Kh-20 (NATO: AS-3 'Kangaroo').
  • SM-30 - phiên bản dùng công nghệ zero-length launch (ZEL) với giá đỡ rocket PRD-22.
  • SM-K - có thể phóng tên lửa hạt nhân tầm thấp cho thử nghiệm Raduga K-10 (NATO: AS-2 'Kipper').
  • Avia S-105 - MiG-19S được sản xuất ở Tiệp Khắc với giấy phép của Liên Xô.
  • Lim 7 - phiên bản MiG-19 của Ba Lan
  • Shenyang J-6 - phiên bản MiG-19 của người Trung Quốc. Phiên bản này được đưa vào phục vụ trong không quân Pakistan với tên gọi F-6. F-6 sau này được cải tiến để mang được tên lửa AIM-9 Sidewinder.

Các nước sử dụng MiG-19[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ các nước sử dụng MiG-19

Thông số kỹ thuật (MiG-19S)[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-19 3-view drawing.svg

Thông số riêng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phi đoàn: 1 người
  • Dài: 12.5 m (41 ft)
  • Sải cánh:.2 m (30 ft 2 in)
  • Cao: 3.9 m (12 ft 10 in)
  • Diện tích cánh: 25.0 m² (270 ft²)
  • Trọng lượng rỗng: 5.447 kg (11.983 lb)
  • Trọng lượng cất cánh tối đa: 7.560 kg (16.632 lb)
  • Động cơ: 2× động cơ phản lực có thùng nhiên liệu phụ Tumansky RD-9B, lực đẩy 31.9 kN (7.178 lbf) mỗi động cơ.
  • Sức chứa nhiên liệu: 1.800 kg (3.960 lb)

Hiệu suất bay[sửa | sửa mã nguồn]

  • Vận tốc cực đại: 1.455 km/h (909 mph)
  • Tầm hoạt động: 685 km (430 mi); nhiệm vụ 2.200 km (1.375 mi)
  • Trần bay: 17.500 m (57.400 ft)
  • Tốc độ lên cao: 180 m/s (35.425 ft/min)
  • Lực nâng của cánh: 302.4 kg/m² (61.6 lb/ft²)
  • Lực nâng: 0.86

Vũ khí[sửa | sửa mã nguồn]

  • 3 khẩu pháo 30 mm NR-30 (70 viên đạn mỗi súng gắn trên cánh, 55 viên súng gắn trên thân).
  • Mang 250 kg (550 lb) bom hoặc rocket không điều khiển trên 4 giá đỡ dưới cánh.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Máy bay có phát triển liên quan[sửa | sửa mã nguồn]

Mikoyan-Gurevich MiG-17 - Nanchang Q-5 - Shenyang J-6

Máy bay có thể so sánh được[sửa | sửa mã nguồn]

F-100 Super Sabre - Dassault Super Mystère

Danh sách tiếp nối[sửa | sửa mã nguồn]

MiG-13 (I-250) - MiG-15 - MiG-17 - MiG-19 - MiG-21 - MiG-23 - MiG-25